Chủ Nhật, ngày 26 tháng 7 năm 2015

Có mấy quẻ xem cho vui

          1.Ngày 18/7 QTị, lúc khoảng 20h, Võ Hồng Quảng ở Sài Gòn điện ra báo vừa bị mất xe máy tay ga mới mua, đi làm về để ngay trước cửa không khóa, vào nhà một lúc quay ra không thấy xe đâu nữa, hỏi có tìm được không? Lập tức độn một quẻ được Tổn biến Lâm. Đoán không mất, xe chưa thể đem đi xa, hãy khẩn trương tìm ngay sẽ thấy. Khoảng 1 giờ sau anh ấy điện ra cám ơn và báo tin là đã tìm được. Số là người hàng xóm thấy xe của Hồng Quảng đi về để ngay trước cửa không khóa, anh bèn dắt vào nhà minh cho an toàn.
    
       2.Ngày 14/4/ al, vẫn anh Võ Hồng Quảng ở Sài Gòn điện ra báo bị mất sổ đỏ giấy tờ nhà đất, hỏi có tìm được không?  Độn được quẻ Bỉ, biến Thiên thủy tụng. Đoán không mất , để lẫn ở đâu đó, cố gắng tìm. Hai ngày sau anh điện ra báo tin là đã tìm thấy. Linh thật.
        
         3.Lúc 11h30, ngày 6/1 anh Nguyễn Cường ở Hà Nam do quá trình làm ăn gặp khó khăn, có dính líu đến pháp luật, bị công an tìm đến. Hỏi có thể qua được không? Sự việc tốt xấu thé nào.Nghe xong liền độn một quả, được Đăng minh lâm Ngọ. Quẻ tốt. Liền báo ra là hãy bình tĩnh, mọi việc rồi sẽ qua:
             Trong Hỏa là Ly, ngoài Mộc là Chấn, quẻ Chu dịch là: Lôi Hỏa Phong, Phong nghĩa là: thịnh và đầy đủ, ngôi khách ở ngoài sinh ngôi chủ ở trong, Tốt. Muà Xuân bình hoà, muà Hạ rất tốt, muà Thu xấu, muà Đông trung bình.-Tượng quẻ: Nhật lệ trung thiên cách ( Mặt trời sáng đẹp ở giữa trời ).-Ý đoán: đang ở nơi tối tăm được ra ánh sáng.
           Có thơ rằng: Đăng Minh lâm Ngọ cho minh,Trong Hỏa ngoại Mộc tương sinh quẻ này, Quẻ Lôi  Hỏa  Phong  bằng nay, Phong là  thịnh đủ cho hay sự tình, Trung  thiên nhật lệ cát trinh,Quẻ rằng: nội ngoại tương sinh tốt lành, Kỳ thiên quốc báo rành rành, Muôn dân vui vẻ tập tành xướng ca, Cầu quan tước lộc vinh hoa, Cầu tài thì được đề đa tiền tàị, Hôn nhân tốt đẹp cả 2, Thai sản sanh đặng con trai đề huề. Người ra đi chửa có về, Bịnh hoạn không chết  tê mê lâu ngày. Sau đó quả nhiên anh vẫn được bình an.

            4.Sau vụ trọng án giết chết 6 người ở Bình Phước xẩy ra mấy ngày, khoảng 9h sáng có người hỏi khi nào thì bắt được hung thủ. Gieo một quẻ dịch, ngày Đinh Hợi, tháng Nhâm Ngọ, được quẻ Hỏa thủy vị tế, hào 2, hào 4, hào 6 động, biến quẻ Khôn vi địa (lục xung).

HỎA THỦY VỊ TẾ
--- Huynh Đệ Tỵ Hỏa (Ứng) *
- - Tử Tôn Mùi Thổ
--- Thê Tài Dậu Kim *
- - Huynh Đệ Ngọ Hỏa (Thế)
--- Tử Tôn Thìn Thổ *
- - Phụ Mẫu Dần Mộc


Quỷ hợi phục ẩn dưới hào 3 huynh đệ. Đoán: Có thể ngày hợi hoặc tháng hợi thì bắt được. Quẻ có thể có liên quan tiền và tình, hung thủ giả danh là người nhà, bạn bè, anh em Quả nhiên đến tối ngày Hợi (25/5 AL tức 10/6 DL) cả 2 hung thủ đều bị bắt.Nghiệm thật.
     
        5. Bà Trần Thị Nga ở thành phố Nam Định, do bị đột quỵ, sức khỏe yếu, ăn ngủ kém. Ngày 20/5/2015 âm lịch. Tự gieo quẻ hỏi tình hình bệnh tật thế nào? Ngày Nhâm ngọ, tháng Quý mùi năm ất mùi. Gieo được quẻ lục hào Lôi trạch quy muội, hào 3,5 động, biến Trạch thiên quải.

LÔI TRẠCH QUY MUỘI
Bh- - Phụ Mẫu Tuất Thổ (Ứng)
Px- - Huynh Đệ Thân Kim *
Ctr--- Quan Quỷ Ngọ Hỏa
Ct- - Phụ Mẫu Sửu Thổ (Thế) *
TL--- Thê Tài Mão Mộc
Hv--- Quan Quỷ Tỵ Hỏa


TRẠCH THIÊN QUẢI
- - PM Mùi Thổ
---HĐ Dậu Kim (Thế)
---Tử Hợi Thủy
---PM Thìn Thổ
---Tài Dần Mộc (Ứng)
---Tử Tí Thủy


Thế vương, thế lâm nguyệt kiến, thái tuế, được nhật thần sinh. Thế có gốc rễ, an tâm được. Quan quỷ Ngọ hỏa mùa hè đương vượng. Đoán sang mùa thu quỷ suy, bệnh xẽ đỡ dần. Có thể thế quá vượng nên cần đợi đến tháng nhập mộ (thìn) thì sẽ hồi phục bình thường.
    
      6. Cô Quỳnh, Nghệ An bị mất máy tính xách tay, hỏi có tìm được không? Gieo được quẻ Thủy thiên nhu, hào 5 động biến quẻ Địa thiên thái (lục hợp), quẻ chủ thể sinh dụng, quẻ biến dụng sinh thế. Đoán có thể bỏ quên đâu đó chứ không phải mất trộm.Quả nhiên ngày hôm sau tìm được, do bỏ quên ở nhà bạn.
    
       7. Cô Vũ Thị Thơm, sinh viên đại học sư phạm Hà Nội, ngày 9/5 al, tức ngày Tân mùi, tháng Nhâm ngọ, hỏi về Tài phúc trọn đời. Gieo được quẻ lục hào Phong địa quán, hào 4 thế phụ mẫu mùi thổ động, biến hồi đầu sinh.

PHONG ĐỊA QUAN
--- Thê Tài Mão Mộc
--- Quan Quỷ Tỵ Hỏa
- - Phụ Mẫu Mùi Thổ (Thế)* -------  Quan quỷ ngọ hỏa
- - Thê Tài Mão Mộc
- - Quan Quỷ Tỵ Hỏa
- - Phụ Mẫu Mùi Thổ (Ứng)

Hào thế lâm nhật nguyệt, vượng, động, biến hồi đấu sinh. Hào quan vượng sinh thế. Thế ứng tỳ hòa. Đoán cuộc đời tốt đẹp, tài phúc vẹn toàn.
        
         8. Cô Trần Thị Huyền, sinh viên HN, ngày 5/6 al tức ngày Đinh dậu, tháng Quý mùi, năm Ất mùi. Xin quẻ hỏi về tình duyên và hôn nhân. Gieo được quẻ Trạch địa tụy, hào 1,2 động, biến Đoài.

TRẠCH ĐỊA TỤY
- - Phụ Mẫu Mùi Thổ
--- Huynh Đệ Dậu Kim (Ứng)
--- Tử tôn Hợi Thủy
- - Thê Tài Mão Mộc
- - Quan Quỷ Tỵ Hỏa (Thế) *
- - Phụ Mẫu Mùi Thổ *
Hào thế quan quỷ tỵ hỏa lâm thế, động biến thê tài mão mộc, biến hồi đầu sinh. Phụ mẫu mùi thổ biến Quan quỷ tỵ hỏa. Đoán: Thế lâm quan quỷ là Sự thể lâm thân, tốt. Thế động biến hồi đầu sinh. Tốt. Hôn nhân đến nhanh, thuận lợi.
 

Lê Quang Đạo: (Lequangtct trên diễn đàn Lyso.vn), Tp Vinh, Nghệ An
ĐT: 0983225079
Mail: lequang306@gmail.com

Thứ Tư, ngày 17 tháng 6 năm 2015

Cải tạo phong thủy là phải có hiệu quả mới đáng tin

 
Cải tạo phong thủy là phải có hiệu quả mới đáng tin
Từ trước đến nay thì mảng Phong Thủy Âm Trạch luôn được giấu kín trong dòng phái mà ít khi nào để lộ ra bên ngoài. Muốn phân tích cho sâu sắc về Phong Thủy Âm Trạch thì phải gồm 2 mảng: Lý Khí và Loan Đầu.

Lý Khí tức lý thuyết, công thức tính toán; phần này thì tùy thuộc vào mỗi thầy thuộc trường phái nào, được chân truyền từ đâu thì sẽ sử dụng kiến thức đó để làm. Dùng Lý Khí trong Phong Thủy Tam Nguyên thì đa phần gồm 2 mảng Huyền Không Phi Tinh & Huyền Không Đại Quái. Dùng trong Âm Trạch theo Tam Nguyên thì HKPT không phải là công cụ sắc bén, tuy có thể dùng nó để đoán định 1 số việc liên quan đến tốt xấu thịnh suy cho con cháu nhiều đời như trong một số trường hợp Chương Trọng Sơn dùng để đoán các ngôi mô mà ông đi khảo sát, được viết trong các tác phẩm như Trạch Đoán, Âm Dương Nhị Trạch Thực Nghiệm.
Ngược lại thì Huyền Không Đại Quái nếu thật sự được chân truyền thì đây là công cụ sắc bén, có thể giải quyết được rất nhiều khó khăn mà HKPhi Tinh đã thật sự bó tay. Đó là lý do vì sao có nhiều người học HKPT trong quá trình thực hành vẫn gặp một số khúc mắc không hiểu được: có nhiều nhà xấu theo HKPT nhưng thực sự chủ nhà vẫn phát? Hay có những nhà rất tốt theo HKPT nhưng gia chủ vẫn chưa đạt được mức như tính toán? Ngoài 1 phần là do kiến thức HKPT của họ chưa đủ sâu hoặc là do có nguyên nhân về HK Đại Quái.
Tuy nhiên dù cho dùng kiến thức nào để làm Phong Thủy Âm Trạch: Tam Hợp, Tam Nguyên, Huyền Không, Phi Tinh hay Đại Quái, Long Môn Bát Định Cục, Kỳ Môn Độn Giáp...thì vẫn phải luôn nhớ rằng phải làm cho gia chủ phát liền và phát ngay trong vận, một vài năm, dăm bảy tháng, hoặc chậm lắm cũng trong khoảng 10 năm phải thấy hiệu quả.
Đã qua rồi những giai thoại ngày xưa, truyền thuyết rằng "có thầy địa lý cho 1 cuộc đất, nói táng phụ thân ông vào thì 2-3 đời nữa nhà ông sẽ làm quan, chúa....". Thời này mọi thứ biến đổi rất nhanh, việc quy hoạch đất đai, tài nguyên cũng như vậy. Nếu nói rằng táng mộ đó không phải theo kiểu Dần táng Mão phát mà phải đợi đến 20-30 năm, thậm chí 40-50 năm thì thứ nhất là lấy gì làm kiểm chứng nếu mộ đặt không hiệu quả?! Đến lúc đó gia chủ hay thầy cũng chết mất đất rồi thì lấy ai chịu trách nhiệm? Lời hứa năm xưa cũng phôi pha theo gió, tiền thì đã vào túi thầy rồi. Hay nếu thầy sống đến lúc đó lại trả lời lấp liếm "Đức năng thắng số", cần tích lũy thêm nhiều công đức mới được?
Rồi thì đến lúc đó con cháu được hưởng, nhưng ngay lúc này thì vẫn phải ráng làm ăn tích đức nho nhỏ? Đời mình còn chưa chắc được hưởng thì làm để làm gì, việc xa xôi vài chục năm nữa khắc con cháu tự biết đường lo, không cần ông bà phải nhọc công lo giúp. Nếu có lo giúp là nó phải có hiệu quả ngay, để ông bà cha mẹ hiện nay kiếm được nhiều tiền, phúc lộc tốt để khi con cháu lớn lên thì có 1 bệ phóng sẵn để có thể đi du học, giao lưu làm ăn, học hỏi với các nước bạn. Chứ nếu mà nói đời cha không có gì chỉ có tiền để làm mộ, đến đời con cháu sẽ được hưởng làm ông này bà kia...
Thứ nữa là dù cho thầy tính toán đúng, làm việc có tâm đức chứ không phải hạng thầy bà lừa gạt thì chắc gì 20-30 năm nữa mọi địa hình còn đúng như lúc thầy tính. Xin lỗi chứ nhà nước chỉ cần thay đổi quy hoạch, mở 1 con đường cao tốc đi ngang, đào 1 dòng kênh thủy lợi, phá 1 trái núi để cho bên khai thác đá, đào đường hầm xuyên núi, đi đường dây điện cao thế ngang qua, hoặc không cho khu vực đó làm nghĩa trang mà bắt buộc di dời hết mộ phần thì chẳng còn ý nghĩa gì. Và chuyện thay đổi quy hoạch, nhất là liên quan đến lĩnh vực đất đai là chuyện diễn ra như cơm bữa ở các địa phương ở VN.
Do đó nếu lựa chọn phương, hướng, huyệt vị, cách cục cho mộ phần thì nên ưu tiên phát ngay, dù cho thời gian phát có thể ngắn chứ không nên "lựa chọn tốt lâu dài, vĩnh viễn cho con cháu đời đời ấm no". Thầy tính núi ở đây, long mạch từ kia dẫn đến, tụ khí ở hồ nước nọ chỉ là tính toán tạm mà thôi, đến lúc nhà nước quy hoạch vĩ mô thay đổi thì thua.
1 lần đến thăm 1 ngôi mộ phụ mẫu của sư phụ tôi có hỏi, tại sao với địa hình này sư phụ không lựa chọn phân kim định hướng theo Tam Nguyên Bất Bại Cục? Ông trả lời nếu lựa chọn 1 cách cục Tốt lâu dài có nghĩa là vận nào nó cũng chỉ trung bình mà thôi, không thể Đại Phát được. Nếu chúng ta là thầy Phong Thủy thì chỉ nên tính toán cho tốt nhanh và mạnh trong 1 vận, sang đến vận khác thì tu sửa, làm lại để tiếp tục kéo dài sự tốt đẹp.
1 lần khác khảo sát 1 ngôi mộ do Đại Danh Sư Tăng Tử Nam thực hiện tại Đài Loan cho phó tổng thống Đài Loan. Ngôi mộ được thực hiện theo đúng công thức "Càn Sơn Càn Hướng Thủy Triều Càn, Càn Phong Xuất Trạng Nguyên" (mà Bình Nguyên Quân từng chê là Tăng Tử Nam không hiểu gì về câu này mà chỉ khua môi múa mép ra vẻ ta đây rồi tự lý giải câu này theo Huyền Không Phi Tinh) thì ngôi mộ rất phát trong vận 7, tuy nhiên vừa qua đến vận 8 thì nhà nước Đài Loan quyết định lấy đất khu đó quy hoạch lại, không cho đặt mộ phần, nghĩa trang nữa.
Nếu bây giờ các bạn muốn đến khảo sát ngôi mộ này thì cũng không còn do đã bốc đi. Nếu trong vận 8 mà vẫn muốn phát tiếp thì có thể lựa chọn khu vực khác để làm tiếp mà, lo gì. Người VN cứ lo sợ động mồ động mả, kỳ thực cũng như ngôi nhà thôi, việc di dời, xây nhà mới là rất bình thường để đón vận khí tinh khôi của vũ trụ.
 Theo Master Nguyễn Thành Phương

Thứ Bảy, ngày 30 tháng 5 năm 2015

Tọa đàm phong thủy năm 2015

Sáng ngày 30/4/2015, tại hội trường tầng 2 Thư viện Nghệ An, Câu lạc bộ Kinh dịch Nghệ An đã tổ chức buổi tọa đàm về "Phong thủy dương trạch năm Ất Mùi - 2015 những vấn đề cần lưu ý, phi tinh bay về các phương và cách hóa giải sao xấu". Dự buổi tọa đàm có đông đủ các hội viên của Câu lạc bộ, khách mời của Thư viện tỉnh. Chủ trì buổi tọa đám là ông Lê Quang Đạo, Chủ nhiệm Câu lạc bộ.
Mở đầu buổi tọa đàm, nhà Phong thủy Đức Tâm thuyết trình về nội dung Phong thủy dương trạch năm 2015, những vẫn đề cần lưu ý. Năm 2015 có Niên vận là Tam Bích mộc tinh nhập trung cung, bởi vậy Tam bích là chủ khí của cả năm, những người có mệnh Bát bạch, Nhị hắc thuộc thổ cũng cần lưu ý về sức khỏe. Tam bích nhập trung cung các sao khác lần lượt phi vào vị trí theo quỹ đạo Lường Thiên Xích, (Tứ lục tại Càn, Ngũ hoàng tại Đoài, Lục bạch tại Cấn, Thất xích tại Ly, Bát bạch tại Khảm, Cửu tử tại Khôn, Nhất bạch tại Chấn, Nhị hắc tại Tốn). Như vậy Ngũ hoàng đại sát đã bay vào cung Đoài chính tây, thêm năm nay Tam sát cũng tại phía Tây (Thân dậu tuất), do đó phía tây năm nay là một năm hoàn toàn bất lợi, hao tài tốn của, nhất là với những nhà hướng Tây, cửa cổng hướng Tây (Đoài kim). Với hướng Tốn tức Đông nam có sao Nhị hắc tức Bệnh phù bay về đó, Nhị hắc cũng là một hung tinh, nên phương Tốn cũng cần chú ý vấn đề sức khỏe, đề phòng bệnh tật và những rắc rối phát sinh... Tiếp theo thầy Hoàng Thư trình bày về cách hóa giải sao xấu bằng các cách như không kích động, không xây sửa tại các phương ấy, dùng các vật phẩm phong thủy ức chế hoặc tiết khí các hung tinh để hạn chế tác hại của các sao xấu trên.
Trong phần thảo luận, các thành viên cũng đã đóng góp bổ sung nhiều ý kiến, trong đó có vấn đề có nên động thổ trên đầu Thái tuế hay không? Thái tuế năm nay tại cung Mùi, Tuế phá tại cung Sửu, ta không nên động thổ các phương ấy, bởi Thái tuế còn gọi là Tuế thần, là Thanh long mộc tinh, trường khí của nó năm nay tập trung rất mạnh ở phương Mùi, bản chất của Thái tuế là không cát không hung, gặp vượng thì càng thêm vương, nếu gặp suy thì lại càng suy, ví như trường hợp vượng sơn vương hướng lại gặp Thái tuế giúp sức thì đã tốt lại càng thêm tốt, nhưng nếu gặp trường hợp Thướng sơn há thủy thêm Thái tuế thì nguy càng thêm nguy. Nhưng cũng có ý kiến là Năm nay Cửu tử bay vào cung Khôn (mùi khôn thân), mà Cửu tử hỏa ở vận 8 là sao sinh khí (tốt) nên nếu có động thổ ở phương ấy cũng không ảnh hưởng. Vấn đề này có lẽ phải chờ kiểm nghiệm qua thực tế, chờ câu trả lời từ thực tế, bởi nhìn chung các thầy tuy có nghiên cứu khá sâu lý thuyết các môn phong thủy nhưng cũng chưa có nhiều kinh nghiệm thực tiễn trong lĩnh vực này. Mà Thực tiễn mới là tiêu chuẩn của chân lý.
Quang Đạo

Thứ Sáu, ngày 22 tháng 5 năm 2015

CÙNG NHAU ĐỐ KIỀU



Các bạn thân mến! Trước đây tôi đã có bài Bói Kiều nét văn hóa tâm linh, tuy nhiên trong việc khai thác các giá trị của Truyện Kiều thì việc Đố Kiều cũng làm cho bao thế hệ người Việt say sưa bàn luận và thưởng thức.
Trong lịch sử văn học Việt Nam, không có một tác phẩm nào có tính phổ cập rộng lớn như "Truyện Kiều" của Đại thi hào Nguyễn Du. Không thể thống kê hết số người thuộc toàn bộ 3254 câu, và khó tìm được một người dân Việt Nam mà không thuộc một vài đoạn, một vài câu Kiều. Thế kỷ này qua thế kỷ khác, dân ta mê rồi nghĩ ra các cách thưởng thức "Truyện Kiều". Nếu như Vịnh Kiều, Bình Kiều là công việc của giới nhà Nho, trí thức, thì Ngâm Kiều, Lẩy Kiều, Bói Kiều... và đặc biệt là Đố Kiều được quần chúng bình dân tham gia rộng rãi.
Đố Kiều là một trò chơi văn nghệ dân gian dưới hình thức đối đáp, nghĩa là một bên hỏi, một bên trả lời, mỗi bên thường là một nhóm, một đội...Có điều đặc biệt là khi chơi trò Đố Kiều, cả người ra đố và giải đố thường dùng thơ, chủ yếu là thể lục bát, để chuyển tải ý của mình. Trò chơi Đố Kiều xẩy ra nhiều nơi, dưới nhiều hình thức khác nhau, nhưng ở vùng quê Nghệ Tĩnh trước đây chủ yếu diễn ra trong các cuộc hát Phường vải. Hát Phường vải là hình thức hát đối đáp gồm hai nhóm người, một bên là các cô gái địa phương ngồi quay xa dệt vải, một bên là các chàng trai tứ chiếng tụ tập lại. Nội dung hát đố, giải trong hát Phường vải gồm nhiều đề tài khác nhau, nhưng Đố Kiều luôn luôn chiếm một vị trí quan trọng. Điều khó của người giải đố là sau khi nghe đố xong, chỉ một thời gian thật ngắn phải có lời đáp. Bởi vậy trò chơi này đòi hỏi những người tham gia không những thuộc, hiểu "Truyện Kiều", mà phải có phản ứng nhanh trong việc diễn tả ý của mình dưới thể thơ lục bát, đồng thời cần có giọng ngâm, giọng hát hay. Sự thật khó tìm được một người toàn tài như vậy, mà trong các bên dự thi Đố Kiều phải phân công nhau, để cho từng người thể hiện sở trường của mình. Thông thường trong thành viên mỗi đội, ngoài số nam thanh nữ tú ra, mỗi bên còn mời một vài người không phân biệt tuổi tác, thường là cụ đồ Nho hoặc cậu tú, cậu cử...thông thuộc "Truyện Kiều", gánh vác nhiệm vụ mách lời, các chàng trai, cô gái tốt giọng có khi chỉ là người "phát ngôn"!
Nội dung đầu tiên các câu hát Đố Kiều quan tâm là thử thách sự thông thuộc, hiểu biết của người giải đố về "Truyện Kiều". Loại câu đó ấy thường ngắn gọn buộc người giải đố phải tìm một câu, một đoạn nào đó có ý theo yêu cầu của người đố. Có khi bản thân câu đố không khó nhưng vì phải trả lời ngay nên đến cả những nhà "Kiều học" cũng phải lúng túng. Sau đây là một số ví dụ.
Đố: "Truyện Kiều" anh đã thuộc lòng
Chỗ nào tơ liễu mà không buông mành?
Ở câu này, người ra đố đi từ nhận xét rằng, không ai mê Truyện Kiều mà không thuộc câu "Lơ thơ tơ liễu buông mành/ Con oanh học nói trên cành mỉa mai", nên hễ nhắc hai chữ tơ liễu là thế nào buông mành cũng hiện lên. Vả lại, trong "Truyện Kiều" có rất nhiều từ liễu, từ tơ nhưng tơ liễu thì chỉ xuất hiện ba lần, "tơ liễu mà không buông mành" chỉ có hai lời giải:
Dưới cầu nước chảy trong veo
Trên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha!
Và: Chừng xuân tơ liễu còn xanh
Nghĩ mình chưa thoát khỏi vành ái ân.
Trong trò chơi đố Kiều, loại câu đố mà lời giải là một câu Kiều là rất phổ biến:
Đố: "Truyện Kiều" anh đã thuộc làu
Đố anh kể được một câu năm người?
Giải: "Này chồng, này mẹ, này cha
Này là em ruột, này là em dâu"!
Đố: "Truyện Kiều" anh đã thuộc lòng
Đố anh đọc được một dòng toàn Nho?
Giải: "Hồ công quyết kế thừa cơ
Lễ tiên, binh hậu khắc cờ tập công"!...
Nhưng có nhiều câu đố đòi hỏi lời giải không phải là một câu Kiều, mà là sự tổng hợp của những câu, những đoạn khác nhau. Cái khó của lời giải loại này là không chỉ thống kê các câu Kiều, mà phải xử lý vần để lời giải là một đoạn thơ:
Đố: Nàng Kiều lưu lạc gian truân
Với người tình, đã mấy lần chia tay?
Giải:
"Dùng dằng một bước một xa"
Chia tay Kim Trọng châu sa đẫm ngày
"Chén đưa nhớ buổi hôm nay"
Chia tay chàng Thúc hẹn ngày năm sau
"Đành rằng chờ đó ít lâu"
Chia tay Từ Hải, lòng đau nhớ nhà
Chiếc thân bèo nổi, sóng sa
Ba lần ly biệt xót xa, tội tình!
Cũng có khi người ra đố không chỉ dùng một vài lời ngắn gọn, mà dùng nhiều câu dắt dẫn, đưa đẩy để giới thiệu mình hoặc để tỏ tình, trước khi vào nội dung cần đố:
Nữ:
"Trăm năm tính cuộc vuông tròn
Phải dò cho đến ngọn nguồn lạch sông"
Phải đâu mèo mả, gà đồng
Thuyền quyên muốn hỏi anh hùng trước sau:
"Ba quân chỉ ngọn cờ đào
Đạo ra Vô Tích, đạo vào Lâm Tri"
Thế còn một đạo làm chi?
Trai anh hùng giải được, gái nữ nhi chịu tài.
Nam:
Vì ai chiếc lá lìa cành
Khi săn như chỉ, khi mành như tơ
Trót công rày đợi mai chờ
"Phải người trăng gió vật vờ hay sao"
"Ba quân chỉ ngọn cờ đào
Đạo ra Vô Tích, đạo vào Lâm Tri"
Ắt còn một đạo binh uy
Ở nhà giữ chốn biên thuỳ cho nghiêm
Anh hùng tỏ với thuyền quyên
"Chữ tình càng mặn, chữ duyên càng nồng"!
Trong loại câu đố này, người ra đố và giải đố dùng những câu Kiều nguyên vẹn hoặc lẩy Kiều để chuyển tải ý mình, và hình như đây không chỉ là đố giải Kiều mà là còn là đối đáp tỏ tình. Một đặc điểm cũng cần lưu ý, là cả người đố và giải đều đùa với ngôn ngữ trong Truyện Kiều, cụ thể ở đây là chữ Ba quân. Họ đều thừa hiểu rằng ba quân là tiếng chỉ quân đội nói chung, thế mà giả vờ như không hiểu để mà đố, mà giải! Chúng ta biết rằng, trong các câu đố về Truyện Kiều, những câu đố vui đùa theo kiểu chơi chữ chiếm một tỷ lệ rất lớn. Loại câu đố này chỉ mượn "Truyện Kiều" để mang lại tiếng cười sảng khoái như nghe chuyện tiếu lâm. Đó là "Truyện Kiều" của những người thích đùa"!
Hỏi: Tiện đây hỏi một hai điều
Thiếp tôi chưa rõ nàng Kiều ai sinh?
Đáp:
"Hổ sinh ra phận thơ đào
Công cha nghĩa mẹ kiếp nào trả xong"
Khái ( hổ) sinh Kiều, thật lạ lùng
Trả lời như rứa thoả lòng em chưa?
Hỏi:
Chập chờn cơn tỉnh cơn mê
Nghe đâu Kiều có làm nghề tráng gương?
Đáp:
"Mười lăm năm, bấy nhiêu lần
Làm gương cho khách hồng quần thử soi!"
Hỏi: Nổi danh tài sắc đủ điều
Tại sao lại bảo nàng Kiều sứt răng?
Đáp:
"Hở môi ra những thẹn thùng"
Sứt răng nàng sợ chúng trông, bạn cười!
Hỏi:
"Song thu đã khép cánh ngoài"
Nàng Kiều chung chạ có thai bao giờ?
Đáp:
"Lỡ từ lạc bước bước ra"
"Thất kinh nàng chửa biết là làm sao!"
Hỏi:
Đến đây hỏi khách cựu giao
Chàng Kim đau bụng thế nào chàng ơi?
Đáp:
"Khi tựa gối, khi cúi đầu
Khi vò chín khúc, khi chau đôi mày!"
Hỏi:
Sinh ra thời buổi chiến chinh
Thuý Kiều có lấy thương binh không chàng?
Đáp:
Một tay trời bể ngang tàng
Chồng Kiều, Từ Hải rõ ràng thương binh!
Hỏi:
Thời Kiều đã có ngân hàng
Em đây chưa tỏ nhờ chàng chỉ cho?
Đáp:
"Nhà băng đưa mối rước vào..."
Tiền nong thanh toán việc nào chẳng xong!
Còn một nội dung đố Kiều khác nữa, là người đố dùng những câu Kiều hoặc lẩy Kiều để đố xem ý câu đó nói gì. Với nội dung này, người giải phải có óc suy xét, phán đoán mới giải được. Và lạ thay, có nhiều câu có lời giải có vẻ thật chính xác! Và ở loại này, người ta thường trả lời trực diện mà ít dùng thơ.
Đố:
"Trên vì nước, dưới vì nhà"
"Lòng này ai tỏ cho ta hỡi lòng".
(Là cái gì?)
Giải: Cái máng nước (nằm giữa hai mái nhà)
Đố: " Vầng trăng vằng vặc giữa trời
Đinh ninh hai miệng một lời song song".
(Là cái gì?)
Giải: Sáo diều đêm trăng!
Đố: "Trăm năm tính cuộc vuông tròn
Phải dò cho đến ngọn nguồn lạch sông?"
(Là nghề gì?)
Giải: Người đan bồ! (khi đan bồ, phải đan đáy hình vuông trước, rồi sau đó mới đan tròn phía trên và vật liệu đan bồ là nưá phải lầy từ rừng về).
Đố Kiều là một trò chơi tao nhã có từ lâu đời, nhưng tiếc rằng hơn nửa thế kỷ qua hầu như ít xuất hiện trong đời sống tinh thần của công chúng. Đó là một thiếu sót trong công việc bảo tồn vốn cổ của ngành văn hoá.Vừa qua Đài Tiếng nói Việt Nam có một chương trình khá hoành tráng về việc đưa "Truyện Kiều" đến với thính giả bằng cách giới thiệu toàn bộ "Truyện Kiều", từ đầu đến cuối qua giọng ngâm của các nghệ sĩ nổi tiếng nhất, đồng thời trong mỗi đoạn có sự phân tích, giảng giải của các chuyện gia về "Truyện Kiều". Cũng trong chương trình này, Đài còn tổ chức mỗi tháng một câu Đố Kiều với thính giả rộng rãi trong cả nước. Việc làm này của Đài Tiếng nói Việt Nam không những đem lại hứng thú cho người nghe mà còn làm sống lại một trò chơi văn hoá có nguy cơ mai một.

ST


(ST)

Thứ Tư, ngày 08 tháng 4 năm 2015

Cửu tinh Phi tinh và bí quyết Sinh Trai hay Gái



Cửu tinh Phi tinh và bí quyết Sinh Trai hay Gái

Cửa chính, phòng ngủ hoặc hướng kê đầu khi ngủ có ảnh hưởng rất lớn với việc Sinh con trai hay con Gái. Hãy chú ý với các sự kết hợp của Cửu tinh lưu niên, nguyệt tinh trong tháng để đạt được hiệu quả cao nhất.
A. Cửu tinh lưu niên và nguyệt tinh hàng tháng

Giường ngủ là nơi chủ nhân nghỉ ngơi, nên chọn ngày tốt giờ tốt mà kê đặt. Nếu như tại lúc kết hôn vào ngày tốt, lại an giường tại chỗ tốt, lấy trung tâm phòng ngủ làm lập cực chia làm tám phương mà luận:

Đầu gối về phương Khí Sinh Vượng của Dương Tinh, kết thành thai nam

Đầu gối phương Khí Sinh Vượng của Âm tinh chủ sinh nữ.

Phương Pháp như sau:

1.Theo chín sao phân bố mỗi tháng bay vào chín cung mà an. Các sao gồm : Nhất Bạch, Nhị Hắc, Tam Bích, Tứ Lục, Ngũ Hoàng, Lục Bạch, Thất Xích, Bát Bạch, Cửu Tử.

2.Tính Âm Dương của Cửu tinh:

Dương tinh: Nhất Bạch, Lục Bạch, Bát Bạch, Tam Bích.

Âm Tinh : Nhị Hắc, Tứ Lục, Ngũ Hoàng, Thất Xích, Cửu Tử.

3. Khi vợ chồng quan hệ, nếu vào tháng đầu gối về phương bốn sao Dương sẽ sinh Nam, Đầu gối về phương bốn cung vị Âm Tinh sẽ sinh nữ, vì thế rất nên nắm vững vòng quay của chín sao trên các cung vị.

4.Thiên văn chín sao năm năm bay, Địa Lý chín sao chẳng đổi dời, bay đến tương sinh sinh quý tử, bay đi tương khắc định sinh thư, Tam Bạch đến Tọa chủ có mang, Tam Bạch vào cửa hỷ sự đến.

5.An giường ở 3 phương Bạch (Nhất Bạch, Lục Bạch, Bát Bạch), hoặc cửa phòng tại 3 phương Bạch (Nhất Bạch, Lục Bạch, Bát Bạch), chủ sinh trai. Giường và cửa phòng đều tại 3 phương Bạch tương sinh thì sinh nam không sai, lại được Đương Niên Thái Tuế Tinh đều đến 3 phương Bạch chủ sinh Quý Mệnh Nam Nhi.

Năm tháng Tử Bạch đoán quyết thiên văn chín sao hàng năm suy đoán, địa lý chín cung không thay đổi. Bay đến tương sinh sinh quý tử, bay lại khắc phục là kỳ hung.

Tam Bạch đáo tọa chủ có thai, Tử Bạch vào cửa hỷ khí đến. Hình hại không vong đều không thực, sinh phù ứng được quý nhân tài.

Chú ý : Lưu Niên chín sao bay đến, lấy phương vị bản cục làm chủ, Sao bay đến là khách, khách sinh chủ, chủ thêm đinh. Khách khắc chủ, chủ hung họa, như phương Càn là Kim, Bát Bạch giá lâm là Sinh, Cửu tử bay đến là khắc, chín sao lấy 1, 6, 8 Tam Bạch là Cát Tinh, nếu không khắc bản Phương, thì đoán là cát. Nếu phạm hình hại không vong tất vô lực, không thể là Phúc.

Thủy Nhất Bạch khách tinh bay đến Chấn, là thủy sinh mộc, nhưng Tý Mão tương hình.

Lại Nhất Bạch Khách Tinh bay vào Khôn, Tý Mùi tương hại, Không Vong chỉ gốc giáp chỗ Không Vong


Nếu các bạn biết kết hợp với việc xoay hướng bếp cho phù hợp để đón Thiên ất quý nhân nữa thì kết quả đạt được càng cao.

Thứ Hai, ngày 06 tháng 4 năm 2015

Chiêu Quý Nhân trong phép định thời gian sinh con



Để luận giải Lá số tử vi, Thần sát đóng vai trò rất quan trọng, có tác dụng rất lớn và chuẩn xác, ảnh hưởng đến số phận của một con người. Làm cha mẹ ai chẳng muốn con mình sinh ra xinh đẹp, thông minh và thành đạt. Một yếu tố quan trọng là phải chiêu được Quý nhân. Vậy làm sao để chiêu được Quý nhân? Làm sao để bé sinh ra có vận mệnh tốt nhờ hội tụ Cát thần, THIÊN THỜI, ĐỊA LỢI, NHÂN HÒA?
Do đó, ngoài yếu tố Thiên định (Người tính không bằng trời tính), Nếu vì lý do nào đó phải chọn ngày giờ sinh cho con trẻ thì cần hội đủ nhiều yếu tố như: không chọn các ngày giờ yểu mạng, sát phu thê, bần tiện, ... chiêu ngày giờ có thân vượng, âm dương ngũ hành đầy đủ và nhất là hội tụ được các Quý Nhân, đắc thời, đắc thế, đắc địa, dụng thần tốt, vinh hiển, can chi hợp cát, .... nói chung là rất nhiều bước.

Xin giới thiệu và hướng dẫn các bạn cách chiêu quý nhân (Cát thần trong tứ trụ) một cách khá dễ hiểu, có thể mang lại cho Bé sắp sinh một vận mệnh cát tường.

Cái gọi là cát thần thực ra không phải là nói trong Tứ trụ cát thần càng nhiều càng tốt, hay cái gọi là hung sát cũng không phải là nói trong Tứ trụ không có là tốt. Rất nhiều thần sát luôn luôn có cát, có hung.

Từ kinh nghiệm đã tổng kết được ta thấy người có nhiều thần sát là mệnh cục tương đối phức tạp, nhưng nếu tổ hợp Tứ trụ tốt lại phối với thần sát thì người đó thường là những người siêu quần xuất chúng. Còn nói chung đối với người dân bình thường thì thần sát không nhiều, thần sát càng ít thì việc dự đoán càng đơn giản. Đương nhiên mọi việc không bao giờ là tuyệt đối, cũng như người hung sát nhiều chưa chắc đã gặp xấu, mấu chốt của vấn đề là phải xem các tổ hợp của Tứ trụ và tổ hợp của tuế vận là hỉ hay là kị.

Dưới đây là các Tổ hợp Tứ trụ Cát (Quý nhân) cơ bản và dễ tìm

Ngoài ra thần sát hoặc cát hoặc hung cũng không phải là tuyệt đối, mà chỉ có thể nói rằng một thần nào đo lấy cát làm chính, một sát nào đó lấy hung làm chính. Cát thần mà gặp phải hình xung khắc hại thì cũng như không có, hung sát mà bị chế hợp không đủ sức để làm hại thì cũng chẳng còn gì đáng gọi là kị. Nói chung các thiên can và các địa chi đóng dưới nó gặp phải cát thần hay hung sát nhờ đó mà trở thành vượng hay suy. Phải xem các can chi đó bị hình hợp , xung khắc hay không để xem nó tác dụng hay không có tác dụng. Trong mệnh cục gặp được cát thần thì cả cuộc đời thuận lợi trọn vẹn, trong vận, trong năm gặp được cát thần thì đã tốt càng thêm tốt. Trong Tứ trụ kị gặp hung thần vì như thế cả cuộc đời hay bị tai hoạ, trong vận, trong năm gặp phải hung thần thì hung càng thêm hung.

I. Quốc Ấn quý nhân - vinh hiển thành đạt
Người mà trong tứ trụ có Quốc Ấn quý nhân thì hầu hết đều thành đạt và có địa vị cao trong xã hội. Người này chủ về tính cách trung thực, nghiêm túc, nhân hậu.
Cách tra Quốc Ấn quý nhân là lấy can ngày hoặc can năm sinh làm cơ sở để tra các địa chi khác trong tứ trụ. Nếu tổ hợp tứ trụ nào ở vào một trong các trường hợp dưới đây là có Quốc Ấn quý nhân nhập mệnh.
1. Can ngày (hoặc can năm) là Giáp gặp chi Tuất trong tứ trụ.
2. Can ngày (hoặc can năm) là Ất gặp chi Hợi trong tứ trụ.
3. Can ngày (hoặc can năm) là Bính gặp chi Sửu trong tứ trụ.
4. Can ngày (hoặc can năm) là Đinh, Kỷ gặp chi Dần trong tứ trụ.
5. Can ngày (hoặc can năm) là Mậu gặp chi Sửu trong tứ trụ.
6. Can ngày (hoặc can năm) là Kỷ gặp chi Dần trong tứ trụ.
7. Can ngày (hoặc can năm) là Canh gặp chi Thìn trong tứ trụ.
8. Can ngày (hoặc can năm) là Tân gặp chi Tỵ trong tứ trụ.
9. Can ngày (hoặc can năm) là Nhâm gặp chi Mùi trong tứ trụ.
10. Can ngày (hoặc can năm) là Quý gặp chi Thân trong tứ trụ.
 
II. Thiên Ất quý nhân - thông tuệ, phú quý
Thiên Ất quý nhân là cát tinh (sao tốt) chủ về trí tuệ, sự thông minh. Người mà trong tổ hợp tứ trụ có Thiên Ất quý nhân thì cuộc đời gặp hung hóa cát. Người mà thân vượng thì càng thêm phú quý, sức khỏe dồi dào.
Trong tổ hợp tứ trụ, cách tra Thiên Ất quý nhân là lấy can ngày sinh hoặc can năm sinh làm chủ, từ đó xét đến mối liên hệ với các can chi khác của giờ, ngày, tháng hoặc năm sinh. 
- Can ngày hoặc can năm là Giáp (hoặc Mậu) gặp chi Sửu (hoặc Mùi) trong tứ trụ
- Can ngày hoặc can năm là Ất (hoặc Kỷ) gặp chi Tý (hoặc Thân) trong tứ trụ
- Can ngày hoặc can năm là Bính (hoặc Đinh) gặp chi Hợi (hoặc Dậu) trong tứ trụ
- Can ngày hoặc can năm là Canh (hoặc Tân) gặp chi Dần (hoặc Ngọ) trong tứ trụ
- Can ngày hoặc can năm là Nhâm (hoặc Quý) gặp chi Mão (hoặc Tỵ) trong tứ trụ.


III. Thiên Tướng quý nhân
Thiên Tướng là sao vừa chủ về văn vừa chủ về võ. Người có Thiên Tướng trong tứ trụ thường có khả năng nắm quyền, được mọi người tín phục. Người trong tổ hợp tứ trụ có Thiên Tướng lại có thêm các sao tốt khác như Kình Dương, Thiên Mã thì sự nghiệp vô cùng hiển đạt.
Cách tra Thiên Tướng là lấy chi ngày sinh hoặc chi năm sinh làm cơ sở để tra các địa chi trong tứ trụ. Nếu tứ trụ nào ở vào một trong các trường hợp dưới đây là có sao Thiên Tướng nhập mệnh.
1. Chi ngày (hoặc chi năm) là Dần, Ngọ, Tuất thấy chi Ngọ.
2. Chi ngày (hoặc chi năm) là Thân, Tý, Thìn thấy chi Tý.
3. Chi ngày (hoặc chi năm) là Tỵ, Dậu, Sửu thấy chi Dậu.
4. Chi ngày (hoặc chi năm) là Hợi, Mão, Mùi thấy chi Mão.
Ví dụ
Người sinh lúc 6 giờ ngày 14/9/1999 (âm lịch) có tổ hợp tứ trụ là: giờ Quý Mão, ngày Đinh Mùi, tháng Giáp Tuất, năm Kỷ Mão.
Theo trường hợp 4, chi ngày Mùi (Đinh Mùi) gặp chi Mão của năm (Kỷ Mão), do vậy tổ hợp này xuất hiện Thiên Tướng.




Thiên đức – Nguyệt đức quý nhân:

Cách tra Thiên đức, Nguyệt đức là lấy địa chi tháng sinh làm chủ để tìm can hoặc chi trong tứ trụ như sau:

A: Thiên đức quý nhân:
Tháng dần thấy đinh, tháng mão thấy thân, tháng thìn thấy nhâm, tháng tỵ thấy tân, Tháng ngọ thấy hợi, tháng mùi thấy giáp, tháng thân thấy quý, tháng dậu thấy dần, tháng tuất thấy bính, tháng hợi thấy ất, tháng tý thấy tỵ, tháng sửu thấy canh.

B: Nguyệt đức quý nhân:
Sinh các tháng Dần ngọ tuất thấy bính.
Sinh các tháng Thân tý thìn thấy nhâm.
Sinh các tháng Hợi mão mùi thấy giáp.
Sinh các tháng Tỵ dậu sửu thấy canh.

Quý nhân Thiên Đức và Nguyệt Đức là cát tinh, tính tình nhân từ đôn hậu, cuộc đời phúc nhiều, ít gặp nguy hiểm, gặp hung hóa cát, hóa hiểm thành an.... như có thần linh hộ vệ. Nếu trong tứ trụ mà có cả Thiên, Nguyệt Đức thì người đó có năng lực gặp hung hóa cát rất mạnh, gặp phải hung thần cũng bớt xấu rất nhiều, nhưng gặp phải xung, khắc thì vô dụng.

Trên đây mới chỉ là những kiến thức cơ bản nhất, khi vận dụng cần kết hợp mệnh cung, mệnh quái, vượng suy của ngũ hành theo theo tiết lệnh, tìm sự tương sinh, tránh tương khắc. 

Quang Đạo: ĐT 0983225079.  Địa chỉ Email: lequang306@gmail.com
Nhận xem quẻ dịch để biết cát hung về Gia sự, cầu tài, cầu lộc, cầu danh, tình duyên, hôn nhân, cầu con... để được luận giải và hướng dẫn cách tìm cát tránh hung; Xem số Tử vi, xem ngày giờ tốt và Tư vấn Phong thủy. Kinh phí tự nguyện.

Thứ Sáu, ngày 20 tháng 3 năm 2015

Những điều lý thú chưa biết về ví dặm xứ Nghệ

 Câu hò xứ Nghệ là giai điệu ấm tình quê mà Bác Hồ còn thương nhớ mãi trước lúc đi xa.

Từ xa xưa, Nghệ Tĩnh là miền biên giới cực Nam của Quốc gia Đại Việt. Nơi đây đã hình thành hai vùng văn hoá dân gian mang sắc thái riêng biệt cùng song song tồn tại.
Đó là văn hoá dân gian các dân tộc thiểu số sống rải rác khắp miền Tây rộng lớn (chiếm khoảng 2/3 diện tích tự nhiên toàn Tỉnh) và văn hoá dân gian của người Việt (dân tộc kinh), sống ở miền trung du, đồng bằng và ven biển.
Trong kho tàng văn hoá Dân gian - Dân tộc cổ truyền ấy, thì dân ca là một trong những loại hình tiêu biểu, mang những nét đặc trưng bản địa rõ nhất.
“Điền dã” với dân, đi tìm câu ví dặm
Để xây dựng một nền văn nghệ mới Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc, chúng ta không thể không coi trọng việc sưu tầm, nghiên cứu và phát huy nguồn văn hoá văn nghệ dân gian nói chung, dân ca nói riêng.
Việc này phải được tiến hành một cách khẩn trương cấp bách, bởi vì dân ca chỉ tồn tại đồng thời với sự tồn tại của các nghệ nhân dân gian, mà phần lớn những nghệ nhân đó đều đã ở vào tuổi "xưa nay hiếm" đang gần đất xa trời, nếu không kịp thời khai thác thì e rằng vốn cổ quý báu ấy sẽ đi theo các cụ về thế giới bên kia. Như vậy chúng ta không chỉ có lỗi với cha ông mà còn mắc lỗi với cả con cháu sau này.
Ý thức được điều đó, nhiều thập kỷ qua, các nhà nghiên cứu văn hoá dân gian tỉnh nhà đã có nhiều đợt điền dã khắp các miền quê trong tỉnh để sưu tầm khai thác vốn cổ quý báu đó. Tiêu biểu trong số họ phải kể đến các ông (bà): Ninh Viết Giao, Nguyễn Đổng Chi, Thái Kim Đỉnh, Trần HữuThung...(sưu tầm văn học); Lê Hàm, Đào Việt Hưng, Lê Quang Nghệ, An Thuyên, Hoàng Thọ...(sưu tầm Dân ca); Bích Thu, Trần Nghiên (sưu tầm Mỹ thuật); Lan Phương (sưu tầm múa) ...
Riêng Đoàn Dân ca Nghệ An thì hầu hết các diễn viên và nhạc công đều phân ra từng tốp thực hiện chế độ "3 cùng" với các nghệ nhân dân gian (cùng ăn + cùng ở + cùng học tập - học hát, học múa, học đàn) trong nhiều đợt điền dã, có những đợt" nằm vùng" suốt hơn 3 tháng.
Nhiều tư liệu quý về văn hoá văn nghệ dân gian - dân tộc đã được sưu tập khai thác và sử dụng; nhiều công trình nghiên cứu và thực nghiệm đã được công bố bằng phương tiện in ấn (xuất bán sách và băng đĩa) và bằng công diễn trên sân khấu hoặc trên sóng phát thanh truyền hình…
Xin điểm qua mấy nét cơ bản về dân ca ví dặm để bạn đọc có thể hình dung được phần nào diện mạo của nó.
- Thể hát ví: Ví có nhiều điệu như: ví đò đưa, ví phường vải, ví phường cấy, ví phường võng, ví phường chè, ví đồng ruộng, ví trèo non, ví mục đồng, ví chuỗi, ví ghẹo...
Ví thuộc thể ngâm vĩnh, bằng phương pháp phổ thơ dân tộc ( lục bát, song thất lục bát, lục bát biến thể...).
Ví thường là hát tự do, không có tiết tấu từng khuôn nhịp, người hát có thể co dãn một cách ngẫu hứng. Âm điệu cao thấp ngắn dài có khi còn tuỳ thuộc vào lời thơ (ca từ) bằng hay trắc, ít từ hay nhiều từ.
Tình điệu (tính biểu cảm) thì tuỳ vào môi trường hoàn cảnh, không gian thời gian và tâm tính của người hát. Âm vực của ví thường không quá một quãng 8. Tình điệu ví nghe trang trải mênh mang sâu lắng, bâng khuâng xao xuyến, tha thiết ân tình. Tuy vậy, vẫn có loại ví ghẹo và ví mục đồng nghe dí dỏm hài hước, nghịch ngợm hồn nhiên tươi trẻ.
- Thể hát dặm: Dặm là thể hát nói, bằng thơ ngụ ngôn (thơ / vè 5 chữ), nói cách khác thì dặm là thơ ngụ ngôn / vè nhật trình được tuyền luật hoá. Dặm cũng có nhiều làn điệu như: Dặm kể, dặm cửa quyền, dặm ru, dặm vè, dặm nối, dặm xẩm...
Khác với ví, dặm là thể hát có tiết tấu rõ ràng, có phách mạnh phách nhẹ, có nhịp nội nhịp ngoại.Thông thường một bài dặm có nhiều khổ, mỗi khổ có 5 câu (câu 5 thường điệp lại câu 4), mỗi câu có 5 từ (không kể phụ âm đệm). Tuy vậy, cũng có những bài dặm/ vè không phân khổ rõ ràng, mà cứ hát một lèo, có khi đến hàng chục hàng trăm câu, và mỗi câu cũng không nhất nhất 5 chữ mà có thể 4 hoặc 6,7 chữ (do lời thơ biến thể).
Dặm rất giàu tính tự sự, tự tình, kể lể khuyên răn, phân trần bày giải. Cũng có loại dặm dí dỏm khôi hài, châm biếm trào lộng.Và có cả dặm trữ tình giao duyên.
Môi trường - Không gian và tính chất diễn xướng
Qua tìm hiểu và nghiên cứu về tính chất và môi trường không gian diễn xướng dân ca hò-ví-dặm ta thấy rằng:
1. Hát gắn với không gian và môi trường lao động như: cày cấy, gặt hái, đắpđập đào mương, chăn trâu, cắt cỏ (đồng quê); tung chài kéo lưới, chèo chống thuyền bè (sông nước); hái củi, đốt than, bứt tranh, kéo gỗ, bóc măng (núi non); quay tơ dệt vải, trục lúa, đan lát ( xóm thôn).
2. Hát mang tính du hý vào những dịp Hội hè, Tết nhất, Đình đám, hoặc những đêm trăng thanh gió mát bạn bè giao du thưởng ngoạn, thi thố tài năng ứng tác văn chương chữ nghĩa.
3. Tính giao duyên giữa những lứa đôi trai gái để thổ lộ tâm tình, để gửi gắmniềm thương nỗi nhớ, để kén chọn trai tài gái đảm, tìm bạn trăm năm.
4. Tính tự tình, nghĩa là mượn câu hát để bộc lộ nội tâm. Những nỗi niềm sâu kín, những uẩn khúc cuộc đời, những mảnh tình dang dở, những số liếp long đong, hoặc là để biểu thị sự bất bình xã hội.
5. Tính tự sự. Tức là dùng hình thức kể vè để thuật lại những sự việc xẩy ra trong làng ngoài xã, hoặc kể về một sự tích, một giai thoại nào đó, hoặc muốn biểu dương người tốt việc tốt, hay phê phán những thói hư tật xấu...
6. Tính chất tâm linh. Tức là hát trong khi thờ cúng, tế lễ, cầu vong cầu đồng, phù thuỷ, làm chay làm đàn...
7. Tính giáo huấn. Thông qua câu hát để dạy bày khuyên nhủ người đời về những điều hay lẽ phải, về thuần phong mỹ tục,về đạo lý nhân nghĩa ,tôn sư trọng đạo, tứ đức tam tòng,về lệ làng phép nước, về anh hùng nghĩa khí , ái quốc trung quân...
8. Tính hành nghề (mưu sinh) đối với các phường trò chuyên nghiệp hoá,hoặc ở các gánh hát ca trù, các ông xẩm hát rong và các ông thầy cúng.
9. Tính đa dùng. Nghĩa là nó giàu tính biểu cảm, cùng một cốt nhạc (một làn điệu) có thể chuyển tải được nhiều nội dung văn học, nhiều đối tượng miêu tả, nhiều sắc thái tình cảm. Đây có lẽ là một đặc tính nổi trội của dân ca ví dặm.
10. Tính phổ cập. Hầu như khắp mọi miền quê, trai gái trẻ già ai ai cũng có thể hát được.

Bảo tồn & phát huy Dân ca xứ Nghệ
- Chúng ta cần phải bảo tồn các điệu hát nguyên gốc, phục hồi các hình thức diễn xướng cộng đồng, đó là cách bảo tồn không gian môi trường hát dân ca xưa (hát trên sông nước, trên ruộng đồng, trên núi non, trong thôn xóm & trong nhà.
-Kế thừa & phát triển bằng hình thức "bình cũ rượu mới", nghĩa là dùng nguyên xi các làn điệu cũ rồi soạn lời mới có nội dung hiện thực, phản ánh cuộc sống sôi động phong phú và hào hùng của nhân dân ta như: Ngô khoai tranh đấu, Thần sấm ngã, Trước lúc lên đường, Dâng Người câu ví Thành Sen, Đẹp lắm quê mình, Hành hương về quê Bác, Xứ Nghệ quê tôi, Vững một niềm tin...
-Phát triển bằng ca khúc mới, tức là lấy chất liệu dân ca rồi phát triển thành những ca khúc mới mang hơi thở và nhịp sống hiện đại. Ta có thể kể ra hàng loạt những ca khúc nổi tiêng được đông đảo công chúng ưa thích như: Xa khơi, Đào công sự, Chào em cô gái Lam Hồng, Cô dân quân làng Đỏ, Câu hò trên đất Nghệ an, Tiêng hát sông Lam, Trông cây lại nhớ đến Người, Từ làng Sen, Đêm nghe hát đò đưa nhớ Bác, Giữa Mạc tư Khoa nghe câu hò xứ Nghệ, Lời Bác dặn trước lúc đi xa, Khúc tâm tình người Hà Tĩnh, Người đi xây hồ Kẻ gỗ, Hương cau vườn Bác, Về hôi làng Sen, Ân tình xứ Nghệ, Xứ Nghệ quê tôi...
-Phát triển bằng hình thức sân khấu hóa (dân ca kịch) .
Qua hàng chục năm nghiên cứu và thể nghiệm, với hàng chục vở lớn nhỏ, đủ các thể loại (Bi - hài - hùng) như : Không phải tôi, Khi ban đội đi vắng, Cô gái sông Lam, Đầu bến sông, Hoa đất, Trắng hoa mai, Vụ án kỳ lạ, Đốm lửa núi Hồng ... Đến vở Mai thúc Loan (1985), kịch hát dân ca Nghệ Tĩnh đã nghiễm nhiên trở thành một thành viên mớí trong đại gia đình kịch hát dân tộc Việt Nam.

Từ đó đến nay Kịch hát Nghệ Tĩnh lại tiếp tục dàn dựng nhiều vở nổi tíêng khác và đã được tặng nhiều Huy chương vàng-bạc tại Hội diễn sân khấu chuyên nghiệp. Chính từ cái nôi dân ca kịch này đã nẩy nở nhiều tài năng nghệ sĩ, trong đó có NSND Hồng Lựu, các NSƯT: Song Thao, Xuân Năm, Đức Duy, Danh Cách, Đình Bảo, Lệ Thanh, Tiến Dũng, Hồng Năm, An Phúc, Minh Tuệ, Hồng Dương, Thanh Toàn …
Như vậy, rõ ràng dân ca ví dặm đã có bước phát triển về chất, đó là sự chuyển hoá từ hình thức ca hát dân gian, đến ca nhạc chuyên nghiệp, rồi ca kịch sân khấu.

Ở đây chúng ta cũng cần biết thêm rằng, dân ca thuần tuý thường chỉ tồn tại trong môi trường diễn xướng dân gian, nhưng khi ta đưa dân ca vào ca kịch thì trước hết phải sân khấu hoá dân ca - bởi khi đó hát là hành động, là nội tâm, là tính cách của nhân vật.
Do yêu cầu nội tại của kịch, ngoài việc ứng dụng các làn điệu gốc, còn phải sáng tạo thêm nhiều "làn điệu " mới (đa dùng hoặc chuyên dùng) mang âm hưởng ví dặm, cấu trúc theo khúc thức dân gian, lời hát theo các thể thơ dân tộc, và phải biểu đạt được tâm trạng và tích cách nhân vật.
Một loạt làn điệu mới như: Giận mà thương, Hát khuyên, đại thạch, tứ hoa, xẩm thương, xẩm chợ, một nắng haisương, tình sâu nghĩa nặng, em giữ lời nguyền, khóc cha, cuộc đời nổi trôi, ai cứu chàng...(thể hát mang tâm trạng); các điệu: Con cóc, xoay xở, lập lờ, lập loè, đi rao, đèo bòng, khen Thầy tài, to gan, uất ức, bướm say hoa, chồng chềnh, lòng vả lòng sung...(thể hát nói-tính cách); hoặc như: Vào hội đông xuân, đứng thẳng người lên, gốc lúa quầng trăng, cha ơi ngồi dậy mà xem, hỡi công nông binh, hò vượt sông...(thể hát gây không khi sôi nổi hào hùng)…

Có thể nói các làn điệu mới sáng tạo bổ sung đã phần nào thoả mãn được những đòi hỏi cấp bách của công cuộc sân khấu hoá dân ca xứ Nghệ, qua sự sàng lọc của thời gian, nhiều làn điệu đã trở thành "bài tủ" không thể thiếu trong các vở diễn.
Từ những điều lý thú về câu ví dặm, lại thấy được rằng cái đúng đắn của câu "Học xưa vì nay, học cũ để làm mới". Câu hò ví dặm đã thực sự phục vụ cuộc sống đương đại, chứ không chỉ dừng lại ở hình thức bảo tồn thuần tuý, mặc dầu bảo tồn vốn cổ cũng hết sức cần thiết.
Từ dân ca cổ truyền, chúng ta cần tiếp tục bảo tồn nguyên bản, lập hồ sơ đệ trình UNESCO công nhận là di sản thế giới cần bảo vệ. Mặt khác chúng ta cũng cần phát triển sự nghiệp sân khấu hóa ví dặm mạnh hơn nữa, nhằm tạo ra những sản phẩm tinh thần mới, không ngừng thoả mãn nhu cầu thưởng thức ngày càng cao hơn, phong phú hơn của công chúng, góp phần xây dựng một nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
  • Nhạc sĩ Thanh Lưu
    (Nguyên trưởng đoàn dân ca Nghệ Tĩnh)