Thứ Sáu, 7 tháng 4, 2017

Hội Kinh dịch - Phong thủy Nghệ An thông báo:

Hội Kinh dịch - Phong thủy Nghệ An thông báo:
Trong tháng 4/2017 này Hội có chương trình thiện nguyện giúp các bạn Đang kinh doanh Nhà hàng, các Cửa hàng, Cửa hiệu mà chưa thu hút được khách, doanh thu chưa cao trên địa bàn Nghệ An và Hà Nội. Các bạn có nhu cầu hãy đăng ký nhanh nhé. Hội sẽ cử các chuyên gia Phong thủy giỏi đến tận nơi xem xét, đo đạc cụ thể, tư vấn chỉnh sửa, kích hoạt tài lộc, đảm bảo có kết quả mới thôi. Với phương châm, đơn giản, hiệu quả và ít tốn kém nhất.
Kinh Phí hoàn toàn tự nguyện, dù ít dù nhiều tùy tâm, trên tinh thần giúp đỡ, vui vẻ là chính.
Dự kiến đợt 1: Giúp cho 9 Nhà hàng, và 9 cửa hàng, cửa hiệu.
ĐT liên hệ: 0983225079. Xin gặp thầy Đạo - Hội trưởng


Email: lequang306@gmail.com

Thứ Bảy, 11 tháng 3, 2017

Phương pháp chữa bệnh phối hợp giữa y học truyền thống, khí công và chu dịch



Phương pháp chữa bệnh phối hợp giữa y học truyền thống, khí công và chu dịch
Trước hết, liệu pháp tượng số (LPTS) là một phương pháp điều trị bằng khí công do người bệnh chủ động điều chỉnh lại trường khí của mình thông qua nhẩm đọc nhóm số thích hợp.  Tuy nhiên nhóm số này phải được thiết lập, theo dõi và điều chỉnh trên cơ sở biện chứng luận trị bởi một thầy thuốc Đông y có một số kiến thức nhất định về Chu dịch. 
Tăng cường lưu thông khí huyết.  

Theo y học cổ truyền “thống tất bất thông, thông tất bất thống”.  Những triệu chứng đau, nhức, tê mõi của bệnh tật là do sự ứ trệ khí huyết ở một điểm hoặc một bộ phận tương ứng của cơ thể.  Ngược lại, nếu ta có thể làm cho khí huyết thông lợi thì đau, mõi sẽ hết và bệnh tật sẽ không còn.  Do đó một cơ chế quan trọng của LPTS là kích hoạt để tăng cường lưu thông khí huyết ở tạng, phủ hoặc kinh lạc có dấu hiệu bệnh tật.  Trên thực tế, qua quan sát hiệu ứng khí hóa của LPTS, những người có khí cảm tốt có thể nhận thấy khi thông tin về một tượng số được não tiếp nhận liên tục và rõ ràng, thì tạng phủ và kinh khí tương ứng sẽ được kích hoạt và lan tỏa theo chiều đường kinh, hoặc sang các tổ chức có quan hệ biểu lý hoặc quan hệ tương sinh với nó. 

Ví dụ: Ở một trường hợp ho, viêm họng do cảm nhiễm phong hàn, tượng số 20 đã hoạt hóa khí cơ của Phế và đường kinh Phế để thải trừ phong hàn theo đường kinh ra ngoài.


Bản đồ tương sinh - tương khắc của ngũ hành


Vận dụng nguyên tắc bổ tả để cân bằng khí hoá.  

Đông y cho rằng bệnh tật là sự chênh lệch thái hóa giữa hai yếu tố âm và dương trong cơ thể.  LPTS vận dụng nguyên tắc bổ hư, tả thực, tức thêm vào chỗ hư yếu và thải trừ chỗ dư ra để tạo cân bằng khí hóa giữa âm và dương, giữa ngũ tạng, lục phủ.  Việc bổ tả thường dựa vào quan hệ sinh khắc, chế hóa giữa năm hành.  Vòng tương sinh bao gồm Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy.  Vòng tương khắc bao gồm Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim, Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ và Thổ khắc Thủy.  Đối với những nhóm số có hơn hai tượng số, hiệu ứng khí hoá sẽ chuyển động theo hướng tương sinh, và khí hoặc tổ chức liên quan đến tượng số xuất hiện sau sẽ nhận được khí của tượng số xuất hiện trước chuyển đến.  Quan hệ này có hai ý nghĩa.  Đối với tạng hoặc khí của tượng số sau là quan hệ sinh vì được thêm vào.  Tuy nhiên đối với tạng hoặc khí của tượng số trước được xem là quan hệ khắc vì bị tiết bớt khí đi.  

Ví dụ: Nhóm số 260 có thứ tự tương sinh từ Phế Kim 2 sinh Thận Thủy 6.  Số 2 xuất hiện trước số 6 sẽ gây ra hiệu ứng khí ở Phế được kích hoạt và điều chuyển sang cho thận.  Ở đây Thận được Phế sinh nhưng đồng thời Phế bị tiết khí bớt sang cho Thận nên xem là Phế bị khắc.  Nói cách khác, việc sắp xếp tượng số trong một nhóm số luôn theo thứ tự tương sinh và tác dụng sinh hay khắc sẽ tùy thuộc vào tượng số đó đứng trước (bị khắc) hay sau (được sinh).  Ngoài ra, đối với những bệnh có thực tà, việc tả thực chủ yếu cần dựa vào tính hoạt hóa của khí hoặc tổ chức đó.  

Ví dụ: trường hợp đau mắt đỏ, tượng số 3000 được thiết lập với ý nghĩa hoạt hóa cục bộ để thải tà nhiệt ra khỏi mắt.
Tùy theo tính chất hoặc hình tượng mà một bộ phận của cơ thể hoặc một triệu chứng bệnh tật được quy loại vào một hành hoặc một quái. 

Tên quái
Số quái
Ngũ hành
Thiên nhiên
Cơ thể
Bệnh tật
Càn
1
Kim (Dương)
Trời
Đầu.  Đại tràng.  Xương.  Mạch Đốc
Bệnh tật ở xương, vùng đầu mặt, vùng ruột già
Đoài
2
Kim
(Âm)
Ao, đầm
Phổi.  Miệng.  Cuống họng.  Khí quản.  Hậu môn
Bệnh tật ở lợi, răng, miệng.  Bệnh thuộc phổi, ho, suyễn, viêm khí quản.  Bệnh ngoài da
Ly
3
Hỏa
Mặt trời, Lửa
Tâm bào.  Tim.  Mắt.  Vú.  Ruột non.  Tam tiêu.  Hồng cầu
Các bệnh về mắt, tim, vú, bị bỏng
Chấn
4
Mộc (Âm)
Sấm
Gan.  Gân.  Chân
Bệnh tật ở gan, gân, chân.  Bệnh thiếu máu, bệnh đột phát
Tốn
5
Mộc (Dương)
Gió
Túi mật.  Bắp đùi.  Bắp tay
Bệnh ở túi mật, bắp đùi, bắp tay.  Các chứng liên quan đến trúng phong, trúng gió, phong hàn, phong thấp
Khảm
6
Thủy
Nước
Thận.  Bàng quang.  Niệu đạo.  Huyết dịch.  Tai
Những chứng bệnh về tiết niệu, sinh dục, đau lưng, bệnh về tai
Cấn
7
Thổ (Dương)
Núi
Dạ dày.  Cánh tay.  Mũi, Sườn.  Lưng.  Gót chân, Đầu gối.  Các đốt xương
Bệnh tật liên quan đến tỳ-vị.  Bệnh ở sườn, vai, lưng, đầu gối, khớp.  Những chứng sưng, những chứng kết tụ.  Sỏi.
Khôn
8
Thổ (Âm)
Đất
Bụng.  Lá lách.  Cơ bắp.  Phần mỡ
Bệnh về tiêu hóa.  Bệnh về cơ bắp, về mỡ.  Các chứng hàn, thấp.
·      Cách lập các nhóm số.  Tương tự như việc lập ra các phương huyệt trong châm cứu, các nhóm số được kết cấu căn cứ vào biện chứng luận trị, có thể dựa theo nhiều cách khác nhau.

Lập số theo tượng bát quái.  Tùy theo vị trí hoặc triệu chứng bệnh ứng với quái tượng nào để lập số.  
Ví dụ: Một trường hợp hàn điện bị tia lửa bắn vào mắt làm mắt bị xót, bị đau.  Tượng số được lập là 003.  Số 3 là tượng số của mắt, hai số 0 ở trước là thiên về lạnh mát để chống lại viêm, rát thuộc Hỏa (Thủy khắc Hỏa).

Lập số theo lý luận tạng tượng.  Tạng tượng là một học thuyết cơ bản của y học cổ truyền.  Do đó lý luận về tạng tượng là căn cứ quan trọng nhất để lập số.  Chẳng hạn trong khi hiểu biết thông thường cho rằng Phế chủ về hô hấp, nhưng lý thuyết về tạng tượng của Đông y còn cho thấy Phế chủ da và lông hoặc Phế điều thông thủy đạo.  Do đó nhiều bệnh chứng về da hoặc về tiết niệu đều có liên quan đến tượng số 2, tức Phế Kim.  
Ví dụ: Nhóm số 2000 có thể dùng để phát tán mẩn ngứa hoặc tà độc ra khỏi da.

Lập số theo đường đi của kinh lạc.  Chỗ đau thuộc vùng đường kinh nào sẽ lập số tương ứng với đường kinh đó.  Ví dụ:  Ở bệnh viêm mũi do  mũi thuộc vùng tuần hành của kinh Dương Minh nên lập số là 70 để hoạt hóa cục bộ.

·      Cách sử dụng số không (0): Theo người xưa, số không là tượng số của Thái cực khi trời đất chưa chia, vũ trụ chưa thành hình.  Trong LPTS, số không được thêm vào nhóm số có tác dụng làm gia tăng cường độ hoạt hóa hai khí Âm, Dương.  Số không đặt sau thiên về Dương và tăng tính phát tán.  Số không đặt trước nhóm số có tác dụng thiên về Âm và gia tăng tính dưỡng Âm lương huyết.

·      Tổ hợp các nhóm số.  Dãy số được lập ra để điều trị cho một bệnh nhân có thể gồm một hay nhiều nhóm số.  Giữa nhóm số trước và nhóm số sau có thể có quan hệ độc lập, quan hệ tương khắc hoặc quan hệ tương sinh.  Nhưng thường nhất vẫn là quan hệ tương sinh.  Mỗi nhóm có thể gồm một hay nhiều tượng số khác nhau.  Các quan hệ của những tượng số trong cùng một nhóm luôn là quan hệ tương sinh.  Mỗi tượng số có một chức năng điều trị cụ thể hoặc nhằm vào một triệu chứng nhất định.  Tùy thuộc vào bệnh tình hoãn hay cấp, tiêu hay bản mà dùng dãy số gồm một, hai hoặc ba nhóm số hoặc nhóm nào được đặt trước hay sau nhóm khác.  

Ví dụ: 720.650.380 được áp dụng để điều trị cho một bệnh nhân nam bị thấp khớp mãn tính có triệu chứng đau lưng, đau nhức các khớp, người nặng nề khó chịu, hay tiểu đêm.  Bệnh nhân được chẩn đoán là Thận Dương suy, phong hàn thấp xâm nhập làm khí huyết ứ trệ sinh đau nhức.  Giải pháp là ôn bổ Thận Dương, kiện Tỳ, hóa thấp.  Dãy số gồm ba nhóm số.  Nhóm số 720 có số 7 là tượng số Dương Thổ, thuộc kinh Dương Minh nên có tác dụng tán hàn táo thấp.  Ngoài ra về mặt quái tượng, số 7 còn ứng với lưng, đầu gối, các khớp, các đốt xương, những chỗ lồi ra, những chố kết tụ.  Do đó nhóm 720 được đặt trước nhằm ưu tiên cho việc tả thực tà ở các khớp, giải tỏa ứ trệ cục bộ, làm giảm đau.  

Nhóm số 650 với số 5 là tượng số của Dương Mộc.  Sự kết hợp 650 có ý nghĩa ôn bổ Thận Dương.  Ngoài việc chữa suy thận, 650 còn có ý nghĩa tăng cường Dương khí tiên thiên để hỗ trợ cho Dương khí hậu thiên, khu trừ hàn thấp.  

Nhóm số 380 với Hỏa sinh Thổ là những số thường dùng để kiện Tỳ.  Theo Đông y, Tỳ ố thấp, Tỳ chủ vận hóa và Tỳ chủ hậu thiên. Do đó chữa phong thấp thường phải kiện Tỳ để tăng cường Dương khí hậu thiên, giúp thông kinh hoạt lạc, tản hàn trừ thấp và ôn bổ khí huyết toàn thân.  Ngoài ra, cách sắp xếp dãy số từ số 7 đến các số 2,6,5,3,8 theo thứ tự vòng tương sinh liên tục từ số trước đến số sau còn có tác dụng kích hoạt để tạo ra một sự luân chuyển khí huyết toàn thân đều khắp ngủ khí, ngủ tạng.  Điều này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc phòng và chữa bệnh đối với những người cao tuổi, những người có cuộc sống tĩnh tại, kém vận động, hoặc những người cả khí huyết đều suy với nhiều chứng trạng khác nhau.
LPTS không ràng buộc về thời gian, địa điểm hoặc tư thế.  Người bệnh có thể thực hành nhẩm niệm dãy số được lập ra bất cứ lúc nào.  Có thể nhẩm niệm trong lúc đi bộ, ngồi xe, rữa bát hoặc lúc nằm nghĩ.  Có thể niệm gián đoạn hoặc liên tục.  Niệm càng lâu càng có hiệu quả.  Nếu có thể thư giãn, tinh thần tập trung vào tượng số thì hiệu quả càng đến nhanh.  Niệm không cần phát ra tiếng nhưng tâm phải ý thức rõ dãy số, rõ ràng từng số một.  Giữa mỗi nhóm số nên ngưng một tích tắc.  

Chẳng hạn 650.820 niệm là : Sáu năm không - tám hai không - Sáu năm không – tám hai không – Sáu năm không – tám hai không….  Trong LPTS, không phải âm tiết, ngôn ngữ mà là tượng số, chữ số tác động lên não.  Do đó dù nhẩm niệm bằng ngôn ngữ nào, Trung Quốc, Việt Nam hay Mỹ v.v., thì đối với một tượng số tín hiệu tiếp nhận vẫn như nhau. 
Sau khi lập số nên quan sát cảm giác của người bệnh trong năm đến mười phút nhẩm đọc đầu tiên để có thể điều chỉnh nhóm số thích hợp.  Cá biệt, một vài trường hợp đau nhức có thể tăng lên trong quá trình sóng thông tin xung kích vào ổ bệnh.  Cảm giác đau nhức sẽ nhanh chóng qua đi khi bệnh nhân tiếp tục niệm.  Về hiệu quả lâm sàng, theo những tài liệu và bệnh án của nhóm Bác sĩ Lý Ngọc Sơn (Trung Quốc), trong số 1860 trường hợp chữa bằng LPTS được ghi nhận thì tỉ lệ có hiệu quả là 98%, chữa khỏi đạt 71%.  Không có phản ứng phụ nào đáng kể.  Tuy nhiên theo thiển ý, nên cẩn thận khi dùng tượng số 1.  Tượng số 1 thuộc Dương, tính nhiệt, ngoài việc tương ứng với Đại tràng và xương, số 1 còn là tượng số của đầu, của mạch Đốc nên khi niệm cần theo dõi để tránh dương khí thượng nghịch.  Những trường hợp bình thường có thể dùng tượng số 2 để tác dụng vào Đại tràng.
Người xưa cho rằng Trời có ngũ khí, đất có ngũ vị, người có ngũ tạng.  Vũ trụ và con người là đồng một thể.  Từ “tạng” trong tạng tượng có nghĩa là tàng trữ, thu tàng những tinh hoa của trời đất để kết thành cơ thể con người.  Các tổ chức nhân thân được đề cập trong học thuyết tạng tượng gồm năm tạng và sáu phủ.  Năm tạng gồm Tâm, Can, Tỳ, Phế, Thận.  Sáu phủ gồm ruột non, túi mật, dạ dày, ruột già, bàng quang và tam tiêu.  Sự phân biệt giữa tạng và phủ căn cứ vào chức năng và đặc điểm của chúng.  Năm tạng là những cơ quan tàng trữ tinh khí hoặc huyết dịch, trong khi lục phủ có chức năng hấp thu, chuyển vận, tiêu hoá hoặc bài tiết.  Ngoài lục phủ còn có những phủ đặc biệt như não, tuỷ, xương, mạch và bào cung.  Thực hành LPTS cần nắm vững tương quan đối ứng giữa tượng số, tạng tượng và bệnh chứng.  Sau đây là khái quát một số nét chính về sinh, bệnh lý của tạng phủ và những tượng số tương ứng thường được vận dụng trong LPTS:

·      Tâm.  Tâm nằm trong lồng ngực, có quan hệ biểu lý với Tiểu trường.  Tâm là trung tâm hoạt động sống của cơ thể con người.  Tâm thuộc quẻ Ly, hành Hoả, quái số là 3.
Tâm chủ huyết mạch.  Tâm chủ huyết mạch, đề cập đến chức năng thúc đẩy lưu thông khí huyết và vận chuyển chất dinh dưỡng đi khắp châu thân.  Tâm huyết tốt được thể hiện qua mạch tượng có sức, sắc mặt hồng nhuận.  Trái lại nếu tâm khí suy mạch sẽ nhỏ, yếu, mạch đập thất thường, sắc mặt xanh xám hoặc nhợt nhạt.  Trường hợp này tượng số là 650 với ý nghĩa ôn thông khí dương để trợ tâm khí.  Số 6 là tượng số của thận thuỷ, số 5 là tượng của Dương Mộc.  Sự kết hợp 650 tức Thuỷ sinh Mộc, có tác dụng bồi bổ Dương khí tiên thiên, tức Dương khí toàn thân, bao gồm cả tâm khí.  Mặt khác, theo nguyên tắc “hư bổ mẫu”, bổ cho Mộc cũng là gián tiếp bổ cho Hoả vì Mộc là mẹ của Hoả (Mộc sinh Hoả).  Ngoài ra, những bệnh lý về tim mạch thông thường trên lâm sàng thường là những bệnh do xơ vữa động mạch.  Ngoại trừ những trường hợp cấp cứu như nhồi máu cơ tim, tai biến não cần được chuyển đến cơ sở chuyên khoa, liệu pháp tượng số có thể được sử dụng để hoạt hoá tâm khí, ôn bổ Tỳ Dương, tăng cường lưu thông khí huyết, thăng thanh giáng trọc, qua đó có thể làm hạ được cholesterol trong máu và điều chỉnh huyết áp.  Nhóm số để kiện Tỳ hoá thấp, thăng thanh giáng trọc thường là những nhóm số 820, 380 hoặc 30.80.  Những trường hợp này không nhằm bổ hoặc tả một tạng nào mà nhằm kích hoạt để làm phấn chấn khí cơ của những tạng hoặc phủ có liên quan để tăng cường khả năng sinh khắc chế hoá cho yêu cầu thanh lọc và bài tiết.  Chẳng hạn nhóm số 820 về hình thức là Thổ sinh Kim tức kiện Tỳ ích khí.  Nội khí được sinh sẽ tiếp tục bồi bổ trở lại Thổ khí để gia tăng khả năng chuyển vận và thanh lọc.  Nhóm số 380 hoặc 30.80 có ý nghĩa là Hoả sinh Thổ, kích hoạt đồng thời hai tạng Tâm và Tỳ nhằm tăng cường khả năng kiện vận để lưu thông khí huyết.  Tuy nhiên trong khi 380 thiên về bệnh hoãn, chủ yếu nhằm vào kiện Tỳ, thì 30.80 hoặc 30.820 ưu tiên giải toả những triệu chứng cấp ở tim như tim đập nhanh, hồi hộp, tim đập không đều hoặc đau thắt ngực.  Một số trường hợp cấp diễn của cơn đau thắt ngực có thể nghĩ đến nhóm số 720.40 với ý nghĩa sơ tiết Can khí (40) và dùng sức nóng hậu thiên (7) để tuyên thông Tâm Dương (720).  Về khí, cùng là hổ trợ tâm khí nhưng nhóm số 650 nhằm vào dương khí tiên thiên trong khi những nhóm số sau, 30, 80hoặc 720 nhằm vào dương khí hậu thiên.

Tâm tàng thần.  Thần ám chỉ hoạt động ý thức và tư duy của con người.  Nếu chức năng này có trở ngại sẽ gây ra khó ngủ, mộng mị, hay quên.  Kiện Tỳ thường đi đôi với an thần.  Nhóm số có tác dụng kiện Tỳ, an thần thường là 30.80 với ý nghĩa hoạt hoá khí cơ của Tâm và Tỳ.

·      Phế.  Phế là cơ quan chủ về hô hấp.  Phế có quan hệ biểu lý với Đại trường.  Phế thuộc quẻ Đoài, hành Kim, tượng số là 2.
Phế chủ khí.  Khí ở đây bao gồm cả khí do hô hấp và chân khí hay chính khí của cơ thể.  Nếu chức năng của Phế suy yếu sẽ làm cho hô hấp khó khăn, tiếng nói nhỏ yếu, người dễ mệt mỏi.  Tượng số để tăng cường chức năng của Phế thường là 820.  Tượng số 8 thuộc quẻ Khôn, chủ Tỳ thuộc Thổ; tượng số 2 thuộc quẻ Đoài, chủ Phế, thuộc Kim.  820 có ý nghĩa Tỳ Thổ sinh Phế kim, dùng khí của mẹ để bổ hư cho con.

Phế chủ tuyên phát.  Phế chủ da và lông.  Điều này nói đến chức năng của Phế khí thúc đẩy huyết dịch đi khắp cơ thể, từ kinh lạch, phủ tạng đến cơ bắp, da, lông… Nếu Phế khí ủng tắc có thể sinh tức ngực, khó thở, nghẹt mũi, ho hen.  Nhóm số có tác dụng tuyên phát Phế khí thường là 20 hoặc 2000.  Tượng số 2 thuộc quẻ Đoài, thuộc Kim, có thêm ba số 0 ở phần sau nhằm làm gia tăng chức năng hoạt hoá để giải toả sự ngăn nghẹt.  Vì Phế chủ da và lông nên tượng số này còn sử dụng trong nhiều bệnh lý về da, chẳng hạn chữa trị viêm nhiễm ở da có thể lấy số 0002, với ý nghĩa vừa tuyên phát vừa dưỡng âm lương huyết.  Số 0 ở trước mỗi tượng số có tác dụng thiên về Âm.
Phế chủ túc giáng.  Phế điều thông thuỷ đạo.  Theo Đông y, Kim và Thuỷ cùng nguồn.  Phế là nguồn trên của nước.  Với chức năng tuyên phát, Phế khí làm cho ra mồ hôi thì Phế chủ túc giáng có tác dụng làm lợi tiểu.  Nếu chức năng này của Phế bị trở ngại có thể dẫn đến tiểu bị khó, phù nề.  Nhóm số để tăng cường chức năng túc giáng, lợi tiểu có thể dùng 2000.60 với ý nghĩa 2000 để hoạt hoá Phế khí, thúc đẩy túc giáng, 60 để tăng cường Thận khí, kết hợp quan hệ Kim (2) sinh Thuỷ (6) sẽ làm lợi tiểu.
Phế khai khiếu ở mũi.  Mũi là cửa ngỏ của Phế.  Phế khí tốt thì mũi thông lợi, khứu giác sẽ tinh nhạy.  Nếu bị ngoại cảm, phong hàn làm Phế khí không thông có thể gây tắc mũi, chảy nước mũi.  Cảm nhiễm dây dưa sẽ dẫn đến ho, phổi bị viêm hoặc viêm mũi mãn tính.  Nếu do phong hàn có thể lập số 70.  Tượng số 7 thuộc quẻ Cấn, ứng với Dương Thổ và kinh Dương minh đi qua vùng mũi.  Tượng số 7 còn là tượng của cái mũi trong thân thể.  Trường hợp viêm xoang lâu ngày, phần âm đã bị tổn hại, có thể dùng nhóm số 70.260 với ý nghĩa vừa thông kinh hoạt lạc tại chổ ở mũi, vừa dưỡng âm bổ Thận để củng cố phần hạ tiêu, ngăn ngừa khí nghịch.

·      Tỳ.  Tỳ thuộc quẻ Khôn, hành Thổ, tượng số là 8.  Tỳ có quan hệ biểu lý với Vị.  Chức năng của Tỳ có liên quan đến toàn thể hệ thống tiêu hoá và hấp thu của cơ thể.
Tỳ chủ vận hoá.  Chức năng vận hoá của Tỳ bao gồm cả tinh hoa của thức ăn và thuỷ dịch của cơ thể để phân bổ cho các tổ chức, cơ quan.  Nếu Tỳ hư, vận hoá bị đình trệ, có thể gây ra biếng ăn, đầy bụng, tiêu chảy, người nặng nề, mệt mỏi.  Tượng số để kiện Tỳ, tăng cường vận hoá thường là 380 với ý nghĩa Hoả sinh Thổ, dùng khí của mẹ (Hoả) để bổ hư cho con (Thổ).  Quá trình vận chuyển và phân bổ thuỷ dịch cần đến tác động tổng hợp của cả ba tạng Tỳ, Phế, Thận.  Do đó khi gặp những bệnh lý thuỷ thấp ủng trệ đôi khi cần dùng đến nhóm số 650.820hoặc 650.3820.  Nhóm số 650 để ôn bổ Thận Dương; 820 hoạt hoá Tỳ Thổ, trợ Phế khí, lợi túc giáng.  Tổ hợp 650.3820 được sắp xếp theo thứ tự tương sinh của ngũ hành để hoạt hoá và tăng cường sinh khắc chế hoá cho cả năm tạng. 
Tỳ thống huyết.  Chức năng này đề cập đến tác dụng thống nhiếp huyết dịch, giữ không cho nó tràn ra ngoài mạch.  Những triệu chứng như đại tiện ra máu, thổ huyết, băng huyết, thường chú trọng đến kiện Tỳ nhiếp huyết làm đầu.  Tượng số thường dùng là 380. 

·      Can.  Can thuộc quẻ Chấn, tượng số là 4, thuộc Âm Mộc.  Can có quan hệ biểu lý với Đởm (túi mật).  Đởm có tượng số là 5, thuộc Dương Mộc.
Can tàng huyết.  Can có chức năng tàng trữ huyết dịch và điều tiết lượng máu đến các cơ quan.  Nếu Can huyết thiếu có thể xuất hiện hoa mắt, nhìn không rõ, cơ bắp dễ bị co giật.  Can huyết thiếu ở nữ giới có thể dẫn đến kinh ít hoặc bế kinh.  Tượng số liên quan đến chức năng này thường dùng 640 với ý nghĩa Thuỷ sinh Mộc, dùng khí của mẹ (Thận Thuỷ) để bổ hư cho con.
Can chủ sơ tiết.  Khi tinh thần thoải mái, cơ thể khoẻ mạnh thì chức năng sơ tiết của gan được điều hoà.  Trái lại khi tâm lý căng thẳng hoặc có việc tức giận, Can khí bị uất kết có thể dẫn đến tức ngực, đau hông sườn, ăn uống mất ngon… Những ảnh hưởng của Can khí uất kết có thể xem tương đương với những biểu hiện stress của y học hiện đại.  Stress có thể làm suy giảm sức đề kháng của cơ thể và tác động xấu đến hầu hết các chức năng của các phủ, tạng. Tượng số thông thoát Can khí có thể dùng 430.20.  Nhóm số 430 có tác dụng tiết bớt khí của Can Mộc (4) sang cho con là Ly Hoả (3), một hình thức tả thực ở Can.  Nhóm số 20 làm thông thoáng khí cơ toàn thân.  Ngoài ra một số trường hợp tức hơi, đau thốn thình lình ở vùng hông, sườn hoặc dạ dày do Can khí uất kết cũng có thể được sơ tiết bằng nhóm số 4000.  Số 4 là tượng số trực tiếp của Can, còn là tượng số của những hiện tượng, những triệu chứng mang tính cấp bách và tính động (Chấn ứng với tiếng sấm trong thiên nhiên).  Ba số không (000) làm gia tăng cường độ hoạt hoá để sơ tiết Can khí.
Can khai khiếu ở mắt.  Nếu Can đủ huyết mắt sẽ sáng.  Can huyết kém, mắt sẽ khô, thị lực kém.  Can nóng mắt sẽ đỏ.  Can huyết thiếu là trường hợp hư chứng thường dùng 640 với ý nghĩa Thận Thuỷ sinh Can Mộc.  Riêng trường hợp mắt đỏ, mắt đau là một thực chứngdo phong nhiệt có thể dùng 30 hoặc 3000 để phát tán tà khí ở mắt, vì số 3 vừa ứng với mắt vừa ứng với hoả.
Phủ có quan hệ biểu lý với Can là Đởm tức túi mật.  Đởm thuộc Dương Mộc, tượng số là 5.  Do đó nếu 640 là nhóm số có tác dụng bổ Can huyết, làm mát huyết thì 650 là nhóm số có tác dụng ôn bổ tinh huyếtôn bổ hạ tiêu.  Về mặt quái tượng, số 4 là tượng số của Chấn, ứng với tiếng sấm của thiên nhiên và phần động nhất của thân thể tức 2 chân.  Số 5 ứng với Phong khí, một yếu tố gây bệnh có liên quan với hành Mộc.  Do đó một số trường hợp trúng phong trúng gió hoặc cảm mạo gây đau nhức có thể dùng nhóm số 50 để giải phong.

·      Thận.  Thận thuộc quẻ Khảm, hành Thuỷ tượng số là 6, có quan hệ biểu lý với Bàng quang.  Thận đóng vai trò quan trọng trong lục phủ ngũ tạng.  Đông y cho rằng Thận chủ về tiên thiên và là nguồn gốc của năm tạng.  Thể tạng và thần kinh của con người phần lớn đều do Thận quyết định.
Thận tàng tinh.  Tinh là vật chất cơ bản cấu tạo thành cơ thể con người và các hoạt động chức năng của cơ thể.  Tinh được phân thành tiên thiên và hậu thiên.  Tinh tiên thiên ở Thận cần được tiếp sức và bồi bổ bằng tinh hậu thiên qua thu nạp ngũ cốc thông qua Tỳ Vị.  Thận được phân ra Thận Âm và Thận Dương.  Thận Âm là nguồn gốc các dịch thể trong thân người, làm trơn các tổ chức.  Thận Dương là nguồn gốc Dương khí, có tác dụng làm ấm và sinh hoá các ngũ tạng.  Giữa Thận Âm và Thận Dương cần có sự cân bằng và chế ước nhau để tồn tại.  Thường nói khí Dương thường thừa và khí Âm thường thiếu.  Âm hư dẫn đến khí nghịch thường gây ra nhức đầu, hoa mắt, mất ngủ, áp huyết tăng….  Trường hợp này có thể dùng nhóm số 260.  Nhóm số 260 có tác dụng tư Âm tiềm Dương, chuyển hư hoả thượng nghịch trở về Mệnh môn.  260 có thể bồi bổ Âm huyết, bao gồm cả Can huyết, vì Thuỷ là mẹ của Mộc (Thuỷ sinh Mộc).  Do đó bổ Thận cũng là bổ Can (hư bổ mẫu).  Trường hợp cả Âm Dương đều suy kém thường xuất hiện các triệu chứng tinh thần mệt mỏi, đau lưng, tứ chi lạnh, hay tiểu đêm… có thể dùng nhóm số 650.3820.  Nhóm số này có thể vừa bổ Thận Dương (650) vừa hoạt hoá khí cơ, ôn bổ toàn thân (3820)
Thận chủ thuỷ dịch.  Các loại huyết dịch cấu tạo hơn 70% cơ thể con người.  Sự vận chuyển và thay thế thuỷ dịch chủ yếu dựa vào tác dụng khí hoá của Thận Dương.  Thuỷ dịch do dạ dày thu nạp, Tỳ vận chuyển, thông qua Phế Thận để chuyển đi các nơi.  Riêng các chất độc, chất thải được đưa xuống Bàng quang và thải ra ngoài.  Việc thay thế thuỷ dịch có liên quan đến hầu hết các tạng phủ nhưng quan trọng nhất vẫn là Tỳ, Phế, Thận.  Vì vậy tượng số thường dùng để bổ thận dương và kiện Tỳ hoá thấp với nhóm số 650.3820 cũng được áp dụng cho vận hành thuỷ dịch.
Thận nạp khí.  Theo y học truyền thống, Phế chủ khí nhưng Thận nạp khí vì nguồn gốc của khí là ở Thận.  Do đó những trường hợp khí nghịch làm ho hen, suyển tức, hô hấp khó khăn cần phải bổ Thận, nạp khí.  Tượng số thường là 260 tức Phế Kim sinh Thận Thuỷ.  Nhóm số 260 vừa bổ hư ở Thận lại có thể tả khí thực ở Phế và hoạt hoá khí cơ toàn thân hướng về Thận.
Thận chủ xương cốt, sinh tuỷ, Thận khai khiếu ở tai, biểu hiện ở tóc.  Do đó những bệnh chứng có liên quan đến xương cốt, đến tai đều có liên quan đến Thận.  Thận tàng tinh, tinh sinh Thuỷ.  Nếu Thận tinh dồi dào sẽ là một sinh hoá tốt cho xương.  Nếu tinh kém, xương sẽ yếu, dễ gảy, răng dễ bị hư hoại, tóc cũng thô, xấu.  Tinh ở đây bao gồm cả tiên thiên lẫn tinh hậu thiên nên vẫn cần có sự hổ trợ khí hoá của nhiều tạng phủ khác nhau.  Dãy số điều trị có thể gồm nhiều tượng số có tác dụng tương sinh như 20.650.30.80 hoặc 650.3820.
Bàng quang là phủ có quan hệ biểu lý với Thận, có cùng tượng số với Thận.  Triệu chứng bệnh lý thường gặp ở bàng quang là tiểu khó, tiểu rát do nhiễm trùng đường tiểu, do sang chấn hoặc do sỏi.  Nhóm số để làm phấn chấn Thận Dương, thúc đẩy khí hoá Bàng quang có thể áp dụng 2000.60 hoặc 2000.650.  Vì Phế chủ túc giáng, Phế điều thông thuỷ đạo nên tượng số 2 thuộc Phế Kim được phối hợp với 6 của Thận Thuỷ để tăng cường khí hoá và lợi tiểu.  Đối với trường hợp bị sỏi, sỏi Thận, sỏi bàng quang hoặc sỏi mật, ngoài việc hoạt hoá và tăng cường khí hoá cục bộ, LPTS còn phối hợp với nhóm số 720 hoặc 70.  Số 7 là tượng của Dương Thổ ứng với đá, sỏi.  Nhóm số 720 có tác dụng tả khí thực của Cấn Thổ, làm cho sỏi bị tiết khí, hao mòn…  Hoạt hoá hoặc tiết khí đều nhằm áp dụng quy luật “tụ lại thành hình, tán ra hoá khí” để tán sỏi và tiêu sỏi.  Nhiều bệnh án đã được phổ biến ở Trung Quốc cho thấy LPTS chữa được nhiều trường hợp sỏi có đường kính trên dưới 1cm.  Ngoài ra dùng LPTS số để tăng cường khí hoá ở Thận và bàng quang sẽ ngăn ngừa được việc kết tụ sỏi sau này.
Chống chỉ định
LPTS là một phương pháp trị liệu bằng khí công.  Công phu khí hóa trong LPTS không phải do một người có công năng khí công cao thực hiện mà do chính bệnh nhân tự điều chỉnh lấy trường khí của mình.  Do đó cần có thời gian để việc chữa trị đạt được hiệu quả.  Vì vậy không nên dùng LPTS để điều trị các trường hợp cấp cứu hoặc các chứng viêm nhiễm nặng.  Ngoài ra không áp dụng LPTS cho những bệnh nhân mất trí nhớ, hay quên, dễ nhầm lẫn, và những người không đủ độ minh mẫn cần thiết để ghi nhớ các con số.
Khí công cũng như Dịch học là những lý thuyết rất cổ xưa.  Tuy nhiên cách vận dụng nó vẫn không ngừng được phát huy qua các thời đại.  Phạm vi bài viết, những đối ứng về quái tượng và lý luận về nhóm số chỉ có tính cách gợi ý.  
Quang Đạo (Sưu tầm và tổng hợp)

Thứ Sáu, 3 tháng 2, 2017

Thông báo chương trình hoạt động từ thiện



Thông báo chương trình hoạt động từ thiện
         Cũng như mọi năm, cứ mỗi độ tết đến xuân về, Câu lạc bộ Kinh dịch Nghệ An lại phối hợp với Thư viện tỉnh tổ chức chương trình xem quẻ dịch đoán vận hạn, xem quẻ tình duyên hôn nhân, xem công danh, sức khỏe cầu tài cầu lộc và tư vấn phong thủy đầu năm cho bạn đọc cùng nhân dân trong vùng để gây quỹ từ thiện. Năm nay Ban Chủ nhiệm Câu lạc bộ Kinh dịch đã thống nhất với Ban lãnh đạo Thư viện tỉnh là số tiền thu được thông qua xem quẻ và tư vấn phong thủy sẽ ủng hộ Hội bảo trợ thân nhân Liệt sĩ tỉnh, và thăm hỏi một số bệnh nhân nặng có hoàn cảnh khó khăn đang điều trị tại Bệnh viện U Bướu Nghệ An.
          Thời gian từ 8h sáng ngày 17 đến ngày 20 tháng Giêng âm lịch năm Đinh Dậu.
          Địa điểm tại Sảnh tầng I Thư viện tỉnh Nghệ An.
          Vậy thay mặt Ban tổ chức trân trọng thông báo để các bạn và quý khách gần xa được biết tham gia, Đồng thời trân trọng kính mời các nhà hảo tâm, các thầy, các chuyên gia bốc dịch, phong thủy phát tâm thiện nguyện tham gia ủng hộ để chương trình thành công tốt đẹp.
        Trân trọng!
    Thay mặt Ban tổ chức:
    Lê Quang Đạo, Chủ nhiệm CLB Kinh dịch – Phong thủy Nghệ An
    ĐT: 0983225079      .   
    Email: lequang306@gmail.com

-Trên đây là hình ảnh các thầy tham gia chương trình từ thiện đầu xuân năm ngoái 2016 gây quỹ ủng hộ Làng trẻ em mồ côi SOS Nghệ An

Thứ Bảy, 7 tháng 1, 2017

Chìa khóa để cải đổi vận mệnh



Chìa khóa để cải đổi vận mệnh
A. Có thể cải vận được hay không?
Quan điểm của phương Đông về số phận dường như là một phạm trù đã được an bài, Mệnh và Vận đã được định đoạt sẵn, con người không thể nào vượt qua được số phận. Nhưng cũng cùng lúc đó các nhà học giả cho rằng Đức năng thắng số, khuyên con người hành thiện sẽ cải được mệnh vận, trả được nghiệp quả và có một cuộc đời an bình hơn.
Phân tích theo quan điểm của các nhà mệnh lý học: Mệnh là một phạm trù gần như cố định, vận thì vận hành tuần tự theo thời gian nhất định, mệnh và vận trên thực tế là một quy luật khách quan của sự vận động. Vậy“Vận mệnh đã là một quy luật khách quan thì điều chỉnh bằng cách nào được?”Nghiên cứu tứ trụ, am hiểu tứ trụ là một trong các phương pháp hữu hiệu để có thể điều chỉnh mệnh vận một con người thuận theo tự nhiên và đạt được hiệu quả tương đối rõ ràng. Bài viết này phân tích và điểm lược một số các quan điểm của các nhà mệnh lý học trong lịch sử (Lưu Bá Ôn, Thiệu Khang Tiết) cũng như dương đại (Từ Nhạc Ngô, Thiệu Vĩ Hoa, Lý Hàm Thường, Lý Cư Minh) nhằm cung cấp cho các bạn một cái nhìn rõ hơn phép cải vận đời người qua phân tích và ứng dụng quan điểm tứ trụ.
Vấn đề cải vận là rất khó, nhưng với những ai có cơ duyên hiểu và vận dụng được sớm thì hàng lang số phận của các bạn sẽ được cải đổi khá nhiều trong những năm tháng còn lại của cuộc đời. Tại Trung Quốc, Đài Loan và Việt Nam hiện nay việc sử dụng tứ trụ để tư vấn mệnh vận ngày càng trở nên phổ biến hơn.
B. Phương pháp cân đo mệnh vận – và lý thuyết dụng thần của tứ trụ
Xoay quanh phương pháp phân tích mệnh vận đời người của tứ trụ, các nhà mệnh lý học sử dụng học thuyết về dụng thần. Đây là một lý thuyết phức tạp và thực sự là khó khi xem xét phân tích Mệnh của một cá nhân trong không gian và thời gian của Vận của mối quan hệ với lục thân trong cuộc đời, vấn đề sự nghiệp, tài vận và họa hạn...
Tứ trụ cuả một người là 4 trụ gồm năm, tháng, ngày, giờ sinh theo âm lịch, mỗi trụ được chỉ bằng 2 chữ Can và Chi nên thành 8 chữ (nên còn gọi là bát tự). Chúng ta cứ hình dung tại bất cứ một thời điểm năm, tháng, ngày, giờ âm lịch nào cũng đều là "tứ trụ"cả, không cứ là ngày giờ sinh.
 “Mệnh” tức là Bát tự hay còn gọi là Tứ trụ, do Thiên can, Địa chi tạo thành, “Vận” tức là đại tiểu vận, lưu niên,… cũng do các Thiên can, Địa chi tạo thành, bởi vậy “Vận mệnh” đều do can chi tổ hợp mà thành, mà can chi là những ký hiệu đại diện của ngũ hành, vì thế vận mệnh thực chất là sự tổ hợp của ngũ hành.
Tứ trụ Mệnh, Vận bám sát theo: Âm dương, Ngũ hành sinh khắc chế hoá, địa chi hợp, xung, hình, hại - qua các tương tác giữa mệnh cục (tứ trụ), và đại vận, lưu niên - tức vận trình. Vì dùng ngũ hành nên độ chính xác của thời gian ứng nghiệm cao hơn hẳn các khoa khác (trích trong cuốn Tứ trụ Tử bình Trúc Lâm Tử).
Nhưng giữa các hành, không chỉ đơn giản là tương sinh, tương khắc. Với mỗi cá nhân sẽ có sự vượng suy và lệch về một ngũ hành nào đó, gọi là thái quá và mặt bất cập của các hành. Ví dụ:
§  Kim vượng: gặp Hoả sẽ thành vũ khí (có ích);
§  Hoả vượng: gặp Thuỷ thì trở thành cứu ứng cho nhau;
§  Thuỷ vượng: gặp Thổ sẽ thành ao hồ;
§  Thổ vượng: gặp Mộc thì việc hanh thông;
§  Mộc vượng: gặp Kim sẽ trở thành rường cột;
Theo Chu Dịch: "mọi việc, mọi vật trong thế gian đều thống nhất ở thái cực". Ngũ hành là sự thể hiện rõ nhất, lớn nhất của vạn vật; cho nên mọi việc, mọi vật thống nhất ở âm dương, ngũ hành.
Con người là một linh vật trong vạn vật, nên tất nhiên nó phải chịu ảnh hưởng của sự vận động không ngừng của vũ trụ. Khoa Tử Bình dự đoán theo Tứ trụ là một khoa dự đoán có tham vọng giải thích toàn diện về cuộc sống của 1 cá nhân - tiểu thiên địa - nó nghiên cứu các qui luật chi phối sinh mệnh con người, vận dụng các qui luật sinh, khắc cuả ngũ hành để giải thích tương quan giữa con người và trời đất. Con người khi sinh ra đã được hấp thụ khí của đất trời biểu hiện qua thiên can và địa chi trong tứ trụ, có thể hiểu khí đó là khí tiên thiên trong ngũ hành. Tham vọng của các nhà mệnh lý học của tứ trụ là vận dụng ngũ hành trong khí tiên thiên và hậu thiên để điều chỉnh mệnh lý của một con người.
Ngũ hành trong tứ trụ có cái thiên vượng, có cái thiên nhược.
·        Mặt vượng: chỉ những đặc tính lộ rõ, nổi trội;
·        Mặt nhược: chỉ những đặc tính chìm ẩn hoặc yếu hơn;
·        Mặt thiếu khuyết: Nếu biết ta có thể bổ sung cho người đó, để hướng tới cái tốt, tránh cái xấu;
Ví dụ: người trong tứ trụ không có hành Thuỷ thường thích màu đen (xe cộ, y phục, trang trí..., và thiếu hành thủy thường bị bệnh về thận, bàng quang; họ sẽ được bổ sung bởi màu sắc đen, phương Tây (kim, sinh thuỷ); hay phương Bắc (Thuỷ vượng).
Qua sự bổ sung lý tính, hoặc qua sự lựa chọn có lợi cho sự nghiệp, nghề nghiệp, tiền đồ, hôn nhân, tài phú, quan lộc, phúc thọ, lục thân, sức khoẻ, để cân bằng tổng hợp cho tứ trụ, tức là ta đã chọn sự bổ sung có lợi, không có hại.
Chữ bổ là chìa khoá vàng của Khoa Tử Bình: đó là bổ khí âm dương ngũ hành, bao gồm không gian và thời gian của vũ trụ, mà người đó nhận được lúc sinh ra.
Dụng thần tứ trụ là gì? Việc sử dụng lựa chọn tính lý của ngũ hành qua các sự vật, sự việc, con người, năm, tháng … được gọi chung là dụng thần của tứ trụ. Dụng thần có thể được hiểu như là thuốc của mệnh, để mệnh cân bằng âm dương, đạt được sự hài hòa với cuộc sống, mệnh vận và từ đó cá nhân đó có cuộc sống tốt hơn. Vì vậy dụng thần có thể là một trong năm ngũ hành: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Trong từng sự việc vấn đề cụ thể yếu tố ngũ hành này sẽ có biểu trưng và tính lý cụ thể. Cái sinh ra dụng thần được gọi là hỷ thần. Cái khắc dụng thần được gọi là kỵ thần. (Các bài viết chi tiết về vấn đề này sẽ được đề cập sau).
Vấn đề chính của các nhà mệnh lý học tứ trụ là tìm ra được dụng thần của mỗi cá nhân. Khi biết được dụng thần của mỗi cá nhân, các nhà mệnh lý học tứ trụ có thể đưa ra lời khuyên về đa số các vấn đề của cuộc sống liên quan đến cá nhân đó.
C. Làm thế nào để điều chỉnh vận mệnh?
Năm, tháng, ngày, giờ sinh cùng với tuế vận (quỹ đạo và chu kỳ thời gian), tất cả những phạm trù đó thuộc về “Thiên Định” ( cũng có nghĩa là thời gian – Tiên Thiên) bạn không thể thay đổi được, mà dân gian hay gọi là “Định Mệnh”. Quả thật những phạm trù thuộc về “Thiên Định” chúng ta không thể thay đổi được, nhưng trong cuộc sống có rất nhiều yếu tố chúng ta có thể lựa chọn được, thay đổi được, chúng ta sẽ tạm gọi những phàm trù đó là “Nhân Định”, có thể liệt kê một số nét cơ bản như dưới đây: 
1. Phép đặt tên cải mệnh
Căn cứ ngày sinh âm dương tứ trụ bát tự của mỗi người, tổ hợp ngũ hành, tìm ra dụng thần, sau đó nắm ngũ hành dụng thần diễn biến thành một tên nào đó có thể đại biểu ngũ hành dụng thần. Việc sử dụng một tên mới là dụng thần để cải mệnh. (Có cả một lý thuyết riêng về việc này)
Dựa vào nhu cầu ngũ hành của bản thân, chọn lấy một cái tên phù hợp cũng sẽ có tác dụng tốt đối với vận mệnh. Phương pháp này có một tác dụng nhất định vì họ tên sẽ theo con người suốt cuộc đời, chẳng hạn, nếu đứa trẻ sinh ra với giờ ngày tháng năm đã định thì thầy mệnh lý xem xét hỷ dụng thần của đứa trẻ này là gì, thì họ sẽ chọn một cái tên đúng với hỷ dụng thần của đứa trẻ, ví dụ đứa trẻ cần Hỏa, thầy có thể chọn tên Tâm hoặc Tuệ (Hỏa), ..v.v…Rất nhiều người không hiểu được bí mật này nên chỉ chọn tên không xung khắc với ngũ hành nạp âm của đứa trẻ (ngũ hành nạp âm như Đại Khê Thủy, Tích lịch Hỏa,..), điều này thật đáng tiếc. Và có rất nhiều người đã dùng ngũ hành nạp âm và xem đó là ngũ hành của bản thân mình, thực chất ngũ hành nạp âm không có tác dụng nhiều cho các ứng dụng của con người trong cuộc sống thực tế.
2. Phép làm việc thiện để cải mệnh
Thường nói: "Nhất thiện giải bách tai". Có thể thông qua hành vi quyên góp tiền, cứu tế hiến máu nhân đạo, giúp đỡ người già cô quả, giúp đỡ trẻ em không nơi nương tựa bỏ học quay lại trường học tập, sửa cầu vá đường, phóng sinh … tiến hành tu sửa vận mệnh. Chỗ này là phép làm việc thiện để cải mệnh!
3. Phép tu tâm dưỡng tính cải mệnh
Có thể thông qua tu luyện khí công hữu ích, luyện thư pháp, hội họa, nuôi chim, trồng hoa cảnh, học tập văn hóa khoa học tri thức, không ngừng tăng cường tu dưỡng thân tâm, từ bỏ cá tính cùng tâm tính bất lương. Chỗ này chính là phép tu tâm dưỡng tính để cải mệnh.
4. Phép dùng phương hướng cải mệnh
Xuất hành, đi chơi, chọn nghề nghiệp, lựa chọn nơi ở ứng lấy dụng thần làm tiêu chuẩn, tìm địa phương thích hợp nhất cho bản thân. Ví dụ: Tứ trụ lấy kim là hỉ dụng thần, nên hướng về phương tây chỗ nơi sinh ra để mưu cầu phát triển.
+ Tứ trụ lấy mộc là hỉ dụng thần, nên hướng về phương Đông chỗ nơi sinh ra để mưu cầu phát triển.
+ Tứ trụ lấy hỏa là hỉ dụng thần, nên hướng về phía Nam chỗ sinh ra để mưu cầu phát triển.
+ Tứ trụ lấy thổ làm hỉ dụng thần, nên ở chỗ sinh ra mà mưu cầu phát triển.
+ Tứ trụ lấy kim làm hỉ dụng thần, nên hướng về phía Tây chỗ sinh ra mà mưu cầu phát triển.
+ Tứ trụ lấy thủy làm hỉ dụng thần, nên hướng về phía Bắc chỗ sinh ra để mưu cầu phát triển.
5. Phép dùng công việc học tập tọa hướng để cải mệnh
Đơn vị công tác học tập cũng ứng với hỉ dụng thần của bản thân, tứ trụ lấy kim là hỉ dụng thần thì chọn lựa công ty có ngành nghề thuộc lĩnh vực kim như vàng bạc, đá quý, sau đó điều chỉnh vị trí bàn làm việc:
+ Tứ trụ lấy mộc là hỉ dụng thần, nên tọa Đông hướng Tây.
+ Tứ trụ lấy hỏa là hỉ dụng thần, nên tọa Nam hướng Bắc.
+ Tứ trụ lấy thổ làm hỉ dụng thần, nên tọa Nam hướng Bắc.
+ Tứ trụ lấy kim là hỉ dụng thần, nên tọa Tây hướng Đông.
+ Tứ trụ lấy thủy là hỉ dụng thần, nên tọa Bắc hướng Nam.
Có một bảng danh sách các nghề nghiệp tương ứng với ngũ hành (post sau)
6. Phép dùng hoàn cảnh địa lý để cải mệnh
Căn cứ hỉ dụng thần của bản thân lựa chọn sống ở thành thị, ở tầng lầu, có điều kiện tốt nhất là ở biệt thự. Ví dụ: Tứ trụ lấy kim là hỉ dụng thần, nên chọn lựa chỗ ở có đất thoáng mát và vùng nhiều kim loại, khoáng sản.
+ Tứ trụ lấy mộc là hỉ dụng thần, nên chọn lựa chỗ khu vực ôn đới, nhiều cây cối hoa thảo.
+ Tứ trụ lấy hỏa làm hỉ dụng thần, nên chọn lựa vùng nhiệt đới, vùng đại lục cùng khu vực có nhiều khoáng mỏ than đá, nhà máy điện.
+ Tứ trụ lấy thổ làm hỉ dụng thần, cần chọn lựa vùng hàn lạnh cùng vùng núi cao, bình nguyên.
+ Tứ trụ lấy kim làm hỉ dụng thần, nên chọn lựa vùng có tính mát mẻ và nhiều khoáng quặng kim, khoáng sản.
+ Tứ trụ lấy thủy làm hỉ dụng thần, nên chọn lựa chỗ ở vùng hàn lạnh cùng vùng có nhiều sông nước, biển.
7. Phép dùng ẩm thực để cải mệnh
Ra ngoài đi khách sạn ăn cơm cũng chọn theo tên hỉ dụng thần của bản thân. Như dụng thần là "Kim" , đến khách sạn có tên là kim, như khách sạn Ngân Linh. Ở đây là dựa trên cơ sở chọn lựa thực vật ăn cơm.
+ Tứ trụ lấy mộc là hỉ dụng thần, nên ăn thực vật có tính ôn, ăn thịt gan mật động vật.
+ Tứ trụ lấy hỏa là hỉ dụng thần, nên ăn thực vật có tính nhiệt, ăn thịt động vật như tiểu tràng, tim gan.
+ Tứ trụ lấy thổ là hỉ dụng thần, nên ăn thực vật trung tính lại cùng với ăn thịt động vật như phổi, bao tử.
+ Tứ trụ lấy kim là hỉ dụng thần, nên ăn thực vật có tính mát cùng ăn thịt động vật như phổi, đại tràng.
+ Tứ trụ lấy thủy là hỉ dụng thần, nên ăn thực vật có tính hàn cùng ăn các loại thịt động vật như thận, bàng quang và các loại cá.
8. Phép dùng dược vật để cải mệnh
Sử dụng thuốc và nguồn thuốc có phương hướng thuộc hỉ dụng thần của mệnh. Ví dụ:
+ Tứ trụ lấy mộc là hỉ dụng thần, có thể dùng dược vật có tính ôn (ấm).
+ Tứ trụ lấy hỏa là hỉ dụng thần, có thể dùng dược vật có tính nhiệt.
+ Tứ trụ lấy thổ là hỉ dụng thần, có thể dùng dược vật trung tính.
+ Tứ trụ lấy kim làm hỉ dụng thần, có thể dùng dược vật có tính mát.
+ Tứ trụ lấy thủy làm hỉ dụng thần, có thể dùng dược vật có tính hàn.
9. Phép dùng chữ, số để cải mệnh
Chữ số Ngũ hành: Mộc là 1, 2, hỏa là 3, 4, thổ là 5, 6, kim là 7, 8, thủy là 9, 0. Căn cứ hỉ dụng thần tứ trụ ngũ hành chỗ thuộc chữ số, bản thân lựa chọn đúng chữ số có ích để tiến hành bổ cứu, như biển số nhà, biển số xe, số điện thoại, điện thoại bàn và điện thoại di động, tầng lầu, số hiệu công việc ….
10. Phép dùng nghề nghiệp để cải mệnh
Căn cứ hỉ dụng thần ngũ hành tứ trụ chỗ thuộc đơn vị đóng trên phương vị ngũ hành nào, hành của nghề nghiệp, mà bản thân chọn lựa nghể nghiệp thích hợp, chỗ này là phép chọn nghề để cải mệnh.
11. Phép chọn phối ngẫu để cải mệnh
Căn cứ hỉ dụng thần ngũ hành tứ trụ vượng suy cùng có hay không, chọn lựa tứ trụ đối phương, trong bát tự có lợi cho ngũ hành bát tự của bản thân, là lấy đối tượng phối ngẫu chỗ hỉ của mệnh cục bản thân, đây là phép chọn phối ngẫu để cải mệnh; trai tài gái sắc, như keo như sơn, sống đến bạc đầu, anh hùng mỹ nhân những thứ này đều là khắc họa đối với hôn nhân mỹ mãn; uyên ương ẩu đả, Ngưu lang Chức nữ, nhân duyên trói buộc, vợ chồng oán hận, cùng giường mà khác mộng, vợ chồng tương phản, tuổi trẻ mà ở góa đều là mô tả đối với bi kịch hôn nhân. Như hai loại trên tuyệt nhiên đều có hiện tượng hôn nhân khác nhau, ở góc độ xã hội học nghiên cứu thì không có cách nào tìm ra căn nguyên vấn đề, cũng chính là không có cách nào tìm ra phương pháp ngăn chặn bi kịch. Việc lựa chọn người bạn đời là khó nhất, vào thời kỳ trọng nam khinh nữ, thì khi muốn chọn người con dâu, họ yêu cầu bên nữ cung cấp bát tự của nàng dâu để thầy mệnh lý xem xét, nàng dâu có vượng phu ích tử hay không.
12. Lựa chọn bạn bè, đối tác 
Đối tác, bạn bè của chúng ta cần và họ cũng cần, thì sự trao đổi này tương đối thuận lợi, tương trợ lẫn nhau trong mọi công việc, cuộc sống. Chẳng hạn chúng ta cần Thủy thì những người có thể giúp và hỗ trợ chúng ta nhiều nhất là những người vượng Thủy, vì bản thân mọi người điều có khí ngũ hành vượng nhất vì thế đây là phương pháp chọn lựa rất hữu ích để thay đổi cải vận mệnh của chúng ta.
13. Phép dùng tên y phục, màu sắc để cải mệnh
Trước tiên chọn lựa tên loại y phục cũng theo hỉ dụng thần bản thân. Như dụng thần là "Kim", chọn hiệu kim phong, hiệu ngân linh. Sau đó căn cứ ngũ hành tứ trụ hỉ dụng thần chỗ thuộc màu sắc, nên chọn y phục có màu sắc cùng tên với ngũ hành hỉ dụng thần (y vật trong, ngoài, mũ, giầy, tấc …) hoặc tiến hành bổ cứu trang sức phẩm cho nhân thân.
+ Mệnh cục hỉ kim, chọn y phục màu trắng,
+ Hỉ hỏa, có thể mặc y phục màu hồng;
+ Mệnh cục hỉ thủy, có thể mặc y phục màu đen, màu lam;
+ Hỉ mộc, tất cần chọn y phục màu xanh lục,
+ Hỉ thổ, chọn y phục màu hồng, màu vàng.
14. Phép dụng vật dụng để cải mệnh
Căn cứ hỉ dụng thần ngũ hành tứ trụ chỗ chủ về màu sắc, chọn lựa màu sắc dụng cụ cùng với màu sắc hỉ dụng thần ngũ hành để tiến hành cải mệnh. Như hỉ dụng thần chỗ màu sắc thuộc là màu lục, thì chọn màu lục, màu xanh sinh hoạt và dụng phẩm công việc. Như dụng cụ gia đình, chăn nệm giường ngũ, màu sắc vách tường, gạch nền nhà, màu bút viết, màu dao …
Tóm lại
Mục đích của việc xem, phê đoán mệnh lý là nắm bắt vận mệnh (biết rõ bạn là ai), thay đổi vận mệnh (cải vận, khai vận). Đương nhiên, thay đổi vận mệnh cũng có mức độ. Nếu nỗ lực điều chỉnh theo các phương pháp vừa nêu thì chắc chắn sẽ tốt hơn nhiều so với chờ đợi tiêu cực, nhưng nếu muốn điều chỉnh mệnh thường dân thành mệnh đế vương, điều chỉnh mệnh nghèo khổ thành mệnh tỷ phú thì là ảo tưởng. Biết được vận mệnh của mình, tích cực nỗ lực phấn đấu theo nhũng phương diện có lợi thì vừa không ảo tưởng, cũng không bi quan, biết đủ là vui, hành thiện tích đức, mang lại hạnh phúc cho bản thân, gia đình và xã hội, đó mới là thái độ đúng đắn trong việc nhìn nhận vận mệnh.
Phương pháp tứ trụ đồng thời đưa ra các thông tin: Thời gian có lợi (trùng với tuế vận của dụng thần của các cá nhân); Phương hướng có lợi (phương vị của dụng thần); Ngành nghề phù hợp (ngành nghề giống với ngũ hành của dụng thần); Con người phù hợp (Có tứ trụ phù hợp với dụng thần). Cùng với sự nỗ lực và cải đổi của các cá nhân, chắc chắn các bạn sẽ tìm được những bí quyết cho mệnh vận của mình.

Lưu ý: Những tư vấn về màu sắc, vật dụng bố trí trong nhà cửa ở trên cần phải xem xét trên cả khía cạnh của lý thuyết phong thủy. Bởi vì nếu chỉ xem xét phiến diện đơn thuần một chiều bằng tứ trụ như ở trên có thể việc bố trí phong thủy nhà ở sẽ phản tác dụng với các cá nhân khác đang sinh sống trong ngôi nhà đó hoặc có thể sẽ trái với các lý thuyết về bài trí phong thủy (Loan đầu, huyền không).