Thứ Năm, ngày 20 tháng 8 năm 2015

Xem số tử vi


Tử vi Nữ mệnh


Này Nữ mệnh xem tường cách cuộc,
Chính tinh kia có được miêu viên,
Hoặc vào Vượng địa khá khen;
Nhược lâm hãm địa đảo điên cuộc đời.
Cung Phu, Phúc đôi nơi phải rõ,
Mới  luận bàn độ số hư nên,
Tử vi đóng Mệnh bậc hiền,
Vượng phu ích tử lại thêm sang giàu.
Liêm đắc địa là màu trinh nữ,
Ở Dần, Thân, Tý, Ngọ đang mong.
Gặp Đồng hội ở một cung,
Ấy người phúc trọng đảm đương mọi phần.
Nhật đắc địa từ Dần đến Ngọ,
Tăng phong lưu nếu có cát tinh.
Hai phương phủ, Tương triều minh,
Giáp, Canh, Tân, Át càng xinh càng giàu.
Cự cơ Dần, Mão âu phí quý,
Lòng dâm tư vẫn để một bên.
Kể chi những cách hư rèn:
Nguyệt Thìn, Lương Tỵ, Hợi viên đó mà.
Thói dâm dật xướng hoà kém phúc,
Ấy Văn Xương, Văn Khúc ai khen.
Vũ không gặp đất miếu viên,
Khác chi Xương, Khúc gối loan lạnh lùng,
Số Tham, Phá hào chồng rất kém
Những cô đơn dâm hiển là kinh.
Sát hung kém phúc đã đành,
Dần, Thân cơ, Nguyệt đã đành đâm bôn.
Quyền, Lộc ấy hợp phường nhất xứ,
Số Vượng phu ích tử ai qua,
Kiếp, Không, Linh, Hoả, Kình, Đà.
Liêm trinh, Cự, Vũ lại hoà Tham Lang.
Hai phu mệnh tam phương tứ chính,
Thầy những loại ác tính kinh thương.
Hình, Diêu số gái long đong,
Nếu không kể thất, lộn chồng mà thôi.
Kỵ, Kiếp, Kình hợp ngôi phu vị,
Kìa người phương chạ loạn chung:
Đào, Diêu số ấy trong lòng chẳng chinh;
Nhưng gặp được: Quý, Hình, Tử, Phủ,
Dạ sắt vàng nào sợ lung lay,
Bạc tình hạng gái ghê thay,
Dần, Thân, Tham sát giữ tay nhân cùng
Vận hạn đến Đào, Hồng, Cát, Hỷ,
Lòng gái trai bất dĩ dâm bôn.
Đào, Tang đóng ở mệnh cung,
Lẳng lơ gái ấy phung loan đứt tình.
Kìa Khôi, Tướng bên mình Tả Hữu,
Lại gặp thêm Tử, Phú quá xinh.
Thiên lương, Thiên mĩ đồng hành,
Yêu kiều gái ấy dấn mình bướm ong.
Dương Phi đẹp vốn giòng Cơ, Nguyệt,
Lại Khúc, Xương ba miệt triều viên.
Mệnh bà Lã Hậu chuyên quyền,
Song Lộc ngộ Mã thủ liền một cung.
Đào, Long, Phụ, Bật phùng sau trước,
Hoặc đào, Nô lỡ bước cầu ô.
Khéo nghề kim chỉ thêu thùa,
Hồng Đào, Tấu Vũ ở vừa mệnh cung
Đào Tấu Hỷ Vũ Hồng họp mặt,
Người xướng ca tiếng nức nhà quan.
Phụ Bât ngộ Thái âm nhàn (cung Họi)
Số làm bà Đỡ cứu phường trẻ sinh.
Nguyệt Lượng hội, nữ thanh mỹ tú,
Giòng quyền hào Tử Phủ đồng lâm.
(ở Dần Thân Tỵ Hợi vượng phu ích tử)
Thái âm Mệnh ở Mão Dần,
Lo đường kinh nguyệt chẳng phần thong đong.
Sao Tả Hữu đồng cung gặp gỡ,
Mệnh Đào Hoa, Giáp Nguỵêt ai tày,
Giáp Tả Giáp Hữu vui vầy quý nhân,
Nam nhi sợ nhất phần Nhật hãm,
Nữ mệnh kinh Kỵ ám hay tà
Thái âm hãm Kỵ trùng gia,
Truân chuyên đau ốm thật là lắm phen.
Cung phu đóng ở miền tứ mộ,
Gia Hồng Loan ấy số khóc chồng,
Tử Tức Thiên Hỷ thủ trung,
Nhật Nguyệt lai chiếu sinh giòng quý nhi
Số Diêu Gỷ tai bay vạ gió,
Số Kiếp Không lắm độ gian nan
Mã Đào  duyên nợ tự sinh
Không cần mối lái, ái tình kết giao.
Dương Đà Tuế lâm vào khẩu thiệt,
Còn Đà la ngộ Nguyệt loạn dâm
Tật cung Thai Hồ huyết băng,
Tấu Thư Hoa Cái mệnh phùng thanh cao.
Cái ngộ Mộc gái nào đoan chính.
Mã ngộ Không là tính phiêu bồng.
Lộc Mã thủ, chiếu mệnh trung,
Vượng phu ích tử vốn giòng đoan trang,
Xương Khúc hợp ấy hàng gái đẹp,
Gặp Thiên Cơ hoá kiếp dâm tà,
Xương Diêu đáng sợ thay là,
Ấu nhi đã thích bôn ba dâm loàn.
Phượng Long hợp là phường thuần hậu;
Khốc hư tuy táo bạo hậu chung.
Nữ lưu cốt ở Phu cung
Mệnh thân xấu tốt đừng hòng, đừng lo.
Mệnh vô chính diệu đáng chê,
Cung Phu Tham đóng giữ bề tiểu tinh.
Địa Kiếp với Hồng sanh phu vị,
Cung Mệnh xinh duyên ấy trăm năm.
Mệnh xấu duyên đứt tơ tằm,
Sinh ly sẽ địch loan phòng ro năm
Cung Phu lại Đào Hồng tượng ngộ,
Vợ với chồng đều có dung nhan.
Hông Đào ngộ Kỵ Phụ cung,
Tơ hồng đã đứt, má hồng còn vương.
Thiên, Nguyệt Đức Đào Hồng cung Phối.
Giá chồng sang, trái hội giai  nhân.
Song Lộc hội Phu Thê cung,
Vợ chồng phối hợp vốn giòng giàu sang,
Phu cung: Diêu , Sát Hình Dương.
Hội giao Linh, Hỏa gái toan giết chồng.
Thiên quan, Thiên phúc thủ trung,
Tôn Tăng kính phật dốc lòng thiện gia.
Tham, Liêm hãm mệnh gian tà,
Hồng, Đào, Diêu, Hỉ ắt là dâm bôn.
Trai bất nhận phá quân Thìn, Tuất.
Gái bạc tình Tham, Phá mệnh cung.
Phủ phùng Tất sát chi khôn (sát ở Tý, Ngọ)
Kiếp, Diêu hội ngộ đa vương lưới tình.
Đào, Diêu hội bên mình khá rõ,
Không, Quý, Hình, Tử Phủ ngoại dâm.
Vũ, Quyền nữ Mệnh đồng lâm,
Gái khôn khiến đấng phu quân nể vì.
Tài buốn bán nhiều bề giỏi dắn,
Mã mệnh cung, Tồn hẳn Thiên di.
Ghen đâu năm chọn tháng chày,
Bởi Tham Vượng địa đóng rày mệnh cung.
Thai Binh tướng Đào Hông tương hiệp,
Chẳng chửa hoang, bị hiếp bất ngờ.
Tất sát cung phúc đáng lo,
Nhỡ nhàng số ấy ca nô hành nghề.
Hình, Đào Sát đáng chê cung Phối
Hoặc Tài, Điên, Tử tức long đong.
Luận xem nữ mệnh cho tường
Tinh anh phán đoán mọi đằng chẳng sai.
 

Tử vi nam mệnh

Tử, Phủ trọng hậu khác thường,
Vũ, Tham: người nhỏ là  phương tham lam.
Tứ phùng không, kiếp hiềm giam,
Hoặc là Tứ sát trong làng gian phi.
Thìn Tuất: Phủ, tướng phùng suy,
Tính hay chấp nhất đa nghi mội bề.
Tham, Liêm: Tỵ, Hợi đáng chê,
Tính tham thấy của người mê liền vồ.
Vũ, Tham đầu nhỏ mình to.
Phá, Liêm xốc xếch sức đo hơn người.
Cự, Con Dậu thâm môi;
Cơ, Lương, Vũ, Phá là người có uy,
Sát phùng Thiên hỉ khá hay,
Ấy là phong nhã uy nghi mọi đàng,
Khúc xương là đấn thanh nhàn,
Thật thà đúng đắn là làng đồng, lương.
Việt, Khôi là cách văn chương,
Khôi là khôi ngộ, Việt thường da đen.
Mặt hoa ấy hội Khoa Quyền;
Vũ, Tham, Hoá lộc râu liền đến tai.
Đấng vàng là hội Phong, Thai.
Long trì, Phượng các ấy ai dịu dàng.
Đẹp thay tả hữu một phương.
Khốc hự quanh mát thường thường tròn thâm.
Tham đảo tốt tóc xanh râm;
Mắt đen vũ, Kỵ chẳng nhầm một ai.
Việt, đà tiếng nói khoan thai;
Đồng, không, hư, nhận lắm lời thị phi.
Mộc tính làm dáng ai bì,
Hay khoe mình cũng bởi vì lam quan.
Trường sinh, lực sĩ nói ngoan;
Phủ phùng Thiên mã luận bàn thấp cao.
Quy, ân là khách phong tao,
Trên nào cũng vị, dưới nào cũng yêu.
Thanh long cơ biến đủ điều,
Tấu thư nói ngọt người theo ngay về.
Hỉ thần, hoa cái tốt ghê,
Khẩu thiệt trường đoàn mọi bề đảm đang,
Kiếp, không da ắt đen hoàn;
Hoả, linh mặt khó sầu đâm đêm ngày,
Kình dương tai kém mình gây,
Đà la mắt lớn, chân tay thì dài.
Đào, hồng mặt mũi xinh tươi,
Ky, Hình, Đà, nhận là người tật thương.
Vũ, Diêu, Toái ngọng lẽ thường,
Lại thêm Việt, Kỵ ắt phường điếc câm.
Đồng cung Diêu, Kỵ chẳng nhầm,
Số mà như thế chịu phần sứt môi.
Tham lâm hãm địa là người,
Trong hai nách những mồ hôi một lò.
Người mà mắt nhỏ mắt to,
Nhật phùng đào, Sát tương phò mệnh viên.
Âm, Dương lạc hãm không nên,
Trong ngoài Diêu, Kỵ cho nên mắt loà.
Mắt to mắt nhỏ ấy là,
Nhật phùng Không hãy đoán ra rõ mười.
Phủ Phùng Thất sát nực cười,
Mắt to tai nhỏ là người dị nhân,
Gù lưng thôi chớ  phân vân:
Nhật Phùng Kỵ, Sát lại lâm bệnh phù.
Đà la hắc tử (mụt ruồi) điềm to.
Cự môn, Hoá kỵ âu lo hão huyền.
Tham lam Thái tuế một miền,
Trong ngoài cơ trí đảo điên khó đồng.
Triệt, Tuân đóng ở mệnh cung,
Thiếu niên tân khổ lo toan mọi đường.
Cô thần, quả tú mệnh cung,
Tính người cô độc không màng giao du.
Lộc tồn giàu có về sau
Trường sinh, đế vượng ấy màu thiện lương.
Phủ phùng thất sát chí khôn,
Việc làm táo bạo, những toan hơn người.
Giáp Long, Giáp Phụng đôi nơi,
Tả Hữu, Thai Toạ lâu đài thiếu niên.
Kình, Đà giáp với Mệnh viên
                        Hoặc là không, Kiếp bần hàn yểu vong,
Tứ linh: Cái, Hồ, Phượng, Long,
Công danh quyền thês lẫy lừng một khi,
Tấu thư, Hoa cái thanh kỳ,
Mộc Diêu, Hoa cái ắt thì dâm bôn.
Hổ mà gặp Tấu đồng cung,
Công danh thì cử nên công dễ dàng.
Hổ mà gặp phi đồng sàn,
Ấy Hổ mọc cánh mọi đàng hành thông.
Tử, Phủ gặp mã Dần, Thân,
Phù dư mã ắt thành vận lộ đô.
Nhật, Nguyệt địa, Mã tương cờ:
Thư hùng mã ắt tài cơ sang  giàu
Đồng cung Tôn, Mã gặp nhau,
Ấy là chiết tiễn, ngàn đâu thẳng đường.
Mã ngộ Linh, Hoả miếu cung:
Chiến binh mã ấy vẫy vùng nơi nơi.
Tuấn mã: Khốc, Khách hợp bài,
Ngựa kia có nhạc anh hài lên yên.
Thiên bình ngộ mã chẳng nên:
Phù Thi mã ắt tật nguyền chân tay ...
Chiết túc: Đà, Mã sum vầy.
Tử mã: Tuần, Triệt đêm ngày khảm kha.
Mã kia sao Tuyệt một nhà,
Cùng đồ Mã ấy thật là vô phương.
Thiên hình đóng ở Dần cung (cách Hổ ngậm kiếm)
Mệnh, Thân tại đó uy hùng tướng quân.
Hình, Tướng, Ấn, Binh hợp cùng,
Tài kiếm văn võ vẫy vùng nơi nơi
Khúc, Xương, Thương, Sử hợp bài
Phải phòng tai hoạ bên ngoài bên trong
Đẩu quân, Tử, Phủ thong dong
Ở cung quan lộc trùng trùng phước lai
Đẩu gặp Tồn khá tiến tài
Khốc, Hư lạc hãm miệt mài gian truân
Hoả tai, thuỷ ách lắm lần
Bởi Liêm, Sát, Hoả - Diêu cùng Kỵ, Tham
Thiên, Nguyệt đức, Giải thần tàng
Cùng là Quan, Phúc một làng trừ hung
Thái dương đóng chốn Thuỷ cung (Hợi và Tý)
Gặp Kình hay Kỵ: yểu vong hoặc mù
Hạn gặp thôi cũng âu lo
Hoặc đau đôi mắt, hoặc chờ tóc tang (phần cha)
Đà, La, Địa kiếp chiếu phương,
Gặp Linh tinh, nạn bất tường chẳng sai
Khốc, Hư Tý, Ngọ đồng bài
Tiền bần, hậu phú chứ sai lẽ bàn
Không, Kiếp Tỵ, Hợi đồng sàn
Công danh hoạnh phát phải tường cơ vi
Hồng loan cư Tý khá hay
Văn tinh hội chiếu danh ghi ấu thời
Thiên mã nhập Mệnh ấy ai
Tài năng mẫn tiệp người người ngợi ca
Thiên đồng thủ mệnh ấy là
Đổi thay tính khí khó mà chiều nuông
Tràng sinh, Mã, Hỷ đồng cung
Công danh đắc lộ vẫy vùng một phương
Thiên diêu Tài, Mệnh sinh ương
Không mê cờ bạc cũng phương rượu chè
Vũ Khúc: Thân Mệnh khá hay
Nốt ruồi kín ở thân nay phải tường
Thái âm, Kình ở Ngọ cung
Mệnh viên tại đó uy hùng tướng quân
Thái dương cư Hợi Mệnh, Thân
Gặp Khoa, Quyền, Lộc mười phân vẹn mười
Cơ mệnh miếu vượng đa tài
Tâm từ, tính cấp là người hiền vinh
Khôi, Việt miếu địa trường huynh
Gia đình, xã hội hẳn dành ngôi trên
Liêm trinh lạc hãm ưu phiền
Khoa Quyền ở Ngọ ải phiên trọng thần
Mệnh vô chính diệu "Tam Không"
Nhật, Nguyệt giao chiến dự phần công khanh
Thai mệnh đa học thiều thành (Sao Thai ở Mệnh học giỏi mà mệnh không đạt được)
Mộ hợp Thai, Toạ hiển danh anh tài (Sao Mộ đóng ở Tứ mộ lại gặp Tam thai, Bát toạ)
Liên châu Tam hoá phước lai
Kỵ, Đà, Diêu kế hoạ tai bất thường (3 sao đi liền cung lại gặp Mệnh, như Tam Hoá liên châu)
Phong cáo, Thai phụ giao hoan
Ấy người hưởng ấm thừa quang cõi trần
Xương Khúc đóng ở Mệnh Thân
Là phường tao khác xa gần ngợi ca
Địa kiếp độc thủ ác tà
Liêm, Phủ là hạng quỷ ma bất thường (đóng hãm địa)
Thiên khốc, Địa võng tai ương:
Hoá quyền, thiên khốc lại đường minh danh
Khôi, Xương ở mệnh bậc lành,
Hoả, HÌnh đóng mệnh giữ mình lửa than.
Tả, Hữu đắc địa đồng sàn,
Ấy là được cách thanh nhàn hiển vinh.
Thiên quan, Thiên phúc tu hành,
Tứ Sát vượng địa đã đành minh huy.
Hoá kỵ thi rớt lắm khi,
Dương phùng Kiếp sát học gì cho dương,
Sát, Hinh cô độc tinh ươn,
Quan phủ, Thái tuế đến thường công môn.
Binh, Hình nói chẳng hé răng.
Hãm cung phá, Tuế nói bằng sấm vang.
Tham lương những thích ăn sang.
Diêu kỵ tửu sắc lắm đàng ngã nghiêng.
Đế hãm Mão, Dậu, lại thêm
Sát tinh hội hợp cửa Thiền gởi thân.
Hoặc là Thê, Tử, Phúc cung,
Kiếp, Khong, Sát Kỵ hãm vòng địa ưu.
Mấy người phú quý không toàn,
Bởi sao Nhật, Nguyệt hợp đoàn sát tinh. (tức Diêu, Đà, KHông, Kiếp)
Mấy người khó hiển công danh,
Chỉ vì Nhật, Nguyệt đồng tranh Sửu, Mùi.
Mấy người thu ấn triệt hồi,
Bởi sao Không, Kiếp đứng ngồi nào yên.
Phượng Long: Mão Dầu hai miền,
Bảng vàng có thưở đề tên ở đầu.
Quý, Ân Mùi, Sửu rất màu (Ân quang, Thiên quy đóng Sửu hay Mùi)
Đường mây thẳng bước cao sâu cửu trùng.
Cung quan mừng được Đào, Hồng,
Thiên di tốt kỵ Kiếp, Không lâm vào.
Công danh hẹn tuổi tác cao,
Giáp, Liêm, Giáp sát đoán nào có sai. (Giáp Liêm trinh, Thất sát)
Giáp Bát toạ, Giáp Tam thai,
Thiếu niên cũng dự cát đài nghiêng ngang.
Tả, Hữu, Quan, Phúc đồng sàn,
Chính tinh đắc địa rõ ràng lương y.
Những người niên thiếu danh ghi,
Hồng Loan, Bát toạ ở vì Mệnh cung.
Sông Hao, Tham hội đa dâm;
Thiên Đồng ngộ Quý mười phần thanh tao.
Phú quận, Diêu, Mã hợp vào,
Ấy hạng du đãng ai nào muốn thân.
Giáp Thân, mệnh khá rõ phân,
Nhất là Tử, Phủ dự phần cao sang.
Giáp tả Hữu, Khúc Xương, Nhật Nguyệt;
Lộc, Khoa, Quyền, Khôi Việt cùng gia.
Kỵ Liêm, Phá, Vũ xấu xa
Giáp cung Không, Kiếp, Kình Đà sao nên.
Mão đến Tỵ bóng đen Nguyệt hãm,
Gặp Lương càng bi thảm gian truân.
Kìa ai tiền pú hậu bần,
Bởi chưng Không Kiếp chiếu tuần vận sau.
Còn trước khổ sau giàu bởi số,
Thân mệnh, Thân Tham, Vũ đồng hoà.
Hay gì hãm địa Hoá Khoa,
Gặp Không Kiếp ắt quái tà thạch tinh.
Đắc Tý, Ngọ, Sửu, Thân: Hoá lộc
Hội Kiếp, Không là gốc tàn suy.
Phủ ở Tuất, Tử vi ở Ngọ,
Mệnh công khanh áo đỏ đai vàng.
Mệnh, Thiên, Tài, Lộc, (Quan lộc) bốn phương,
Có Tam Hoá hội rỡ ràng tiếng văn.
Cự, Cơ hợp Khúc, Xương, Tả hữu
Ở Mão cung rạng rỡ công danh:
Tân, Kỷ: Nhất; thứ: Bính, Đinh,
Ngoài ra các tuổi dự vinh đôi phần.
Lin, Dương, Tham, Tướng tý cung,
Cùng là Tứ mộ nổi danh tướng tài.
Nguyệt Dậu, Nhật Tỵ lai triều hợp,
Tuổi Đinh, Tân, Bính, Ất phú viên.
Nhà ai phúc lộc vẹn tuyền,
Bởi sao Tử, phủ chiếu miền tam phương.
đất Thìn, Tuất Âm,Dượng (Nhật, Nguỵêt) đối chiếu,
Hoặc Mùi cung, Mão Hợi hợp nhau,
Cách là vượng địa minh châu,
Cung thềm thoả bước sang giàu chung thân.
Tuất Hợi: Nguyệt, Mão, Thìn thì Nhật,
Ngộ Việt, Khôi, Tả Hữu, Khúc Xương,
Ấy người tước lộc giàu sang,
Chớ nên ắt sát, chớ vương Kỵ, Hình.
Lương, Khúc đóng đồng danh Dần, Ngọ,
Hoặc Ngọ: Lương; Khúc toạ Tý cung
Chức quan ngôi đến đài cương,
Công danh rạng mặt, mọi đường minh danh.
Đất Tứ mộ; Hoả, Linh, Tham, Vũ,
Có uy quyền, chớ ngộ Kình dương.
Thân cung Liêm, Tướng một đường,
Anh hùng vũ dũng ai đương được mình.
Sao Cự tú Tuất, Thìn rất kỵ,
Chững chịu điều thị thị phi phi.
Kiếp, Không, Thái tuế suy vi;
Lộc, Mã ngổTiệt ích gì nữa mong.
Lục Châu thưở lầu hồng phải ách,
Bởi Tuế, Tang, Điếu khách cùng hoà.
Tham, Vũ đóng đất Võng, La (Thìn, Tuất)
Gặp loài Tang, Điếu một nhà càng hung.
Cung, Tỵ, Hợi: Khúc Xương tạo thủ
Trở thành hay nếu có Liêm trinh.
Tuất, Thìn Xương Khúc, Đà, Linh
Sát gia mệnh, hạn gieo mình trầm vong
Liêm, Sát, Tỵ, Kiếp, Không tương hội,
Mệnh an nơi Tỵ, Hợi bềnh bồng.
Tử vi sao quý khá mong,
Tuất Thìn gặp Phá lại giòng hư danh.
Xương Khúc, Phá gặp HÌnh, Kiếp sát,
Chốn Mão, Thìn, Dậu, Tuất lao đao,
Tam Hoá: Hoá lộc đứng đầu
Vào cung Tứ mộ như màu khói mây.
Sao Cựmôn hãm ngay Thìn, Tuất,
Nhưng tuổi Tân gặp Lộc cũng hay.
Mấy người hà tiện xưa nay,
Bởi cung Tài, Phúc gặp rầy Kiếp Không.
Khoa hãm địa ở vòng Mệnh vị,
Nghiệp không thành, danh chỉ như mây.
Lộc ngộ Không Kiếp đồng quy,
Cũng là vô dụng, hoá vi cơ hàn.
Tử vi thủ Mệnh  an  ở Ngọ,
Không sát tinh chức có tam công,
Phải là Đinh. Kỷ sanh năm,
Cùng là Ất, Giáp khá mong được nhờ.
Còn Thiên phủ  Tuất cư mệnh vị,
Hợp cát tinh Giáp, Kỷ sanh nhân
Hoả cục vẹn vẻ mười phân,
Tam công chức chưởng, đành phần chẳng ngoa.
Cung Dần: Lộc; Hợi: Khoa đắc cách
Áng công danh hẹn khách anh tài,
Tham lang; Hoả tú liệt hài,
Mộ cung (Tứ mộ) cũng kẻ quyền oai hơn đời.
Cự Lương gặp Khoa nơi Thìn, Tuất,
Có Mệnh viên ấy thất xinh tươi.
Hỡi ai Giáp, Kỷ mấy người,
Gặp sao Thiên khố tiền rời bạc muôn.
Cự Lương nếu đóng cung Mùi, Sửu,
Lại gia thêm Tứ sát long đong.
Tham, vũ đắc địa khá mong,
Bính, Đinh, Thổ cục ấy giòng giấung,
Mấy người  phú quý nan toàn,
Lưỡng Hao, Hoá kỵ Tài, Quan lâm vào.
Mấy người dự bậc sang giàu,
Hợi, Tý: Tướng ấn lại chầu cát tinh.
Mấy người hiếu sắc hoang tình:
Vĩương Khúc đóng bên mình DiêuY,
Mấy người đông trấn, tây trì:
Phá quân, Thiên Việt hợp bầy Kình dương
Lý Quảng tài lành chẳng phong,
Kình dương, Lực sĩtương phùng Mệnh, Thân.
Nhan Hồi chết giữa niên trung,
Bởi Văn Xương hãm ngộ vòng Thiên thương
Ất, Sửu nhân, Mệnh Dần phương,
Mùi cung: Hạn ngộ Xương, Thương, Dương, Đà.
Việt, Linh, Hình ngộ, Lương Cơ,
Hoặc là Nhật, Nguyệt ắt chờ lôi kinh (bị sét đánh)
Trọng Do mãnh liệt đã đành,
Nhờ Tham, Phá đóng ở mình Thân cung,
Ai đương Hạng Võ anh hùng,
Víao Cự tú, Lương, Đồng hợp xung.
Đồng đóng Mệnh ở Thìn cung,
Lương: Tý, Cự, Tuất hợp trong một miền.
Lại thêm Khoa, Lộc, Hoá Quyền,
Ở cung Xung, chiếu là miên Thiên di.
Tuế ngộ Không Kiếp vận suy,
Cửu tinh Mệnh có Tử vi mới lành.
Hạn hành Vũ khúc, Tham tinh,
Tang, Khốc, Thái tuế lâm Thìn, Tuất cung,
Khuất Nguyên xưa phải trầm vong:
Tuổi Canh nay vẫn đề phòng tử sinh.
Xương Khúc mà gặp Liêm trinh,
Ở cung Tỵ, Hợi tân sinh khó tròn.
Tỵ, Hợi Mệnh ngộ Kiếp Không,
Dẫu rằng đắc địa chết vòng trung niên.
Liêm trinh, Thất sát đồng viên,
Ở cung Tỵ, Hợi chiếu miền Thiên thương,
Đặng Thông đói suốt năm trường,
Hạn hành phải sợ tai ương đến mình.
Liêm, Xương, Đà, Vũ đồng danh,
Tuổi Tân, Nhâm, Kỷ ắt dành hoạ tai.
Kình dương, Kỵ, Hoả một bài,
Hãm mà thủ mệnh thật loài ác tinh.
Khúc Xương Mùi, Sửu hợp thành,
Nếu không cát diệu hữu danh vô dùng.
Phá quân, Hình gặp Khúc Xương:
Tuất, Thìn, Mão, Dậu là phường lao đao.
Sát, Phá, Liêm, Tham lâm vào,
Kình, đà, Kỵ ấy tránh nào bạo hung.
Linh, Hoả, Thương, Sứ, Kiếp, Không
Chuyên đường tác hoạ trùng trùng hải kinh.
Ngọ cung Tam Hoá hợp Kình,
Người sinh Bính, Mậu, biên đình nổi  danh.
Lộc cư Nô bộc bực mình
Đông Tây xuôi ngược mới sinh tiền tài,
Dương Linh toạ thủ mệnh ai,
Lại gặp Bạch hổ hoạ tai dao hình.
Mện Vô chính diệu bất minh,
Phụ Bật gia thủ đơn mình ly tống,
Kỵ, Hình, Thất sát tương phùng,
Thiếu niên yểu chiết như giòng Nhân Uyên.
Hạn phùng Diêu, Hổ ưu phiền,
Những loài ác thú chớ nên đến gần.
Hạn hành Cự; Kỵ hung thần,
Phái phòng những chón giang tân mới lành.
Hông, đào, Không, Kiếp đồng danh,
Áy phường yểu tử đã thành một hai.
Kỵ, Đà,Thái tuế hợp bài,
Cảnh đời nào được mấy người thung dung.
Sao Ân, Quy hợp Khôi cùng,
Ở vào Thân Mệnh bảng rồng đề danh.
Khôi Việc hội gặp Khoa tinh,
Chẳng phùng  Không ắt nên danh dễ dàng.
Tham lang, Bạch hổ một dàng,
Tuất, Thìn tuổi ấy sơn lâm lánh đường.
Hãm cung Tang, Tuế, Cơ, Lương,
Ấy người kém phúc, vợ con biếng chiều.
Tuế, Đà, Cự, Kỵ vận nghèo,
Một thân xuống thác lên đèo chẳng yên.
Phù, Hình, Không Kiếp đớn hèn,
Kẻ thù người oán phải nên giữ mình.
Khốc, Hư, Tang Mã chẳng lành,
Hại người, hại của phần đành tai ương.
Kiếp, Không, Hình, Kỵ, Đà, Dương
Gian nan bệnh tật mọi đường khảm kha,
Hoả, Linh long, Mộc một nhà,
Lành mình lửa cháy cùng là nước sôi.
Dậu cung Hình, Tuế cùng ngồi,
Tai bay vạ gió nào người gây ra,
Dần, Thân: sát, Kỵ trùng gia,
Thường chiêu mạ nhục thật là gian truân.
Cơ Lương Lộc Mã đồng cung,
Phú kham địch quốc của dùng kết đâu.
Ngôi cao chức trọng công hầu,
Ngọ cung Thất sát lại chầu cát tinh.
Quyền cao trọng trấn biên đình,
Tử Đồng Lương, Vũ miếu tinh hợp cùng.
Ân, Quý, Khôi Việt, Liêm, Hồng,
Trai cận cửu trùng, gái tắc cung phi.
Hồng, Khôi, Xương, Liêm phù trì,
Sân Rồng dấn bước tên ghi cữu trùng.
Nếu Kỵ giam ở Tý cung,
Làm nghề thuật sĩ ung dung nuôi mình.
Thiên, Nguyệt đức ngộ Đào tinh,
Trai lấy vợ đẹp, gái lành chồng sang.
Việt Khôi, Quyền Lộc khá bàn,
Trong nhà bậc trưởng, ra đàng bậc trên.
Sát phùng phù, Hổ sao nên,
Dã tràng thưở ưu phiền ngục trung.
Dần, Thân, Tham Ngộ Văn Xương,
Vận ông Đồng Phú, Hân Hoàng đem lưu.
Mệnh, Điền: Tuần, Triệt đương đầu,
Tư cơ cha mẹ khô cầu khó mong.
Phủ, Đà, Tuế đóng Tỵ cung,
Thiềm ngôn. loạn ngữ nói rông tháng ngày.
Bệnh phù, Thái tuế dỡ thay,
Ở cung Tứ mộ hợp bày thiên thương
Không Kiếp đóng ở Mệnh phương,
Triệt, Tuần án ngữ tránh đường hoạ tai.
Đào, Hồng, Diêu, Hỉ trong ngoài,
Lại gia Binh, Tướng: gái tai hoang tàng.

Thân hung hạn sợ muôn vàn,
Tiền đầu hãm hại một đoàn hung tinh.
Tất sát là loại đáng kinh,
Hãm địa ngộ phải lưu Kình sợ thay.
Dương, Đà, Thất sát khá hay,
Chiếu và Thân, Mệnh tháng ngày khổ đau.
Cự Tham Phá Kỵ gặp nhau,
Bên mình hoạ đến dễ hầu tránh ru,
Tham, Liêm: Tỵ Hợi ngục tù,
Dần, Thân: Tham hội Xương lo tung đình,
Phá phùng Mão, Dậu khá kinh,
Gặp sao Nguyệt đức phúc lành lại qua.
Hình, Kình cư Ngọ đồng gia
Sát, Kiếp lai chiếu ắt là ngục trung,
Mệnh, Đào, Thân lại Hồng Loan;
Hạn gặp Tuế, Kiếp, Phụng hoàng rẽ duyên.
Thanh long, Thai, Hỉ hợp miền,
Vợ ắt thai nghén khá xem phúc nhà.
Kình dương, Hoa cái Ngộ Đà,
Hạn hành năm ấy đậu hoa phải phòng.
Vũ, Cơ: Lộc, Mã, Hỉ, Hồng
Hôn nhân vận ấy đèo bồng thất gia.
Lương, Phục, Vũ ở toà Ngọ vị,
Hạn gặp thì chức trị quản binnh.
Đạu cung Thái tuế, Thiên hình,
Phải phòng vận hạn dễ sinh gông cùm.
Chơi bời du thuỷ, du sơn,
Thiên di gặp Mã hợp chàng Đà la.
Thìn Tuất, Tất sát xem qua,
Kinh, Hình hội ngộ ắt là đảo điên.
Tiểu  hạn Cự, Vũ, Hoá Quyền,
Hoặc Mộ (sao Mộ) Tả Hữu ấy miền thăng vinh.
Việt Khôi, Long Phượng Văn tinh,
Vào thi ắt hẳn bẻ cành quế hoa,
Sát gặp Tồn, Tử đoán ra,
Lại sao Kỵ đóng ắt là tối tăm.
Thiên lương ngộ hoả chớ lầm,
Hại người tổn vật mấy lần hoạ sinh.
Thái dương hãm ngộ hung tinh,
Nếu không kiện tụng, thôi đành tóc tang (bố chết)
Quyền, Hao, Không Kiết chớ màng,
Kẻ trên biếm loại khỏi đàng công danh.
Linh phùng Sát, Phá hạn hành:
Văn Vương xưa cũng giam mình ngục trung.
Nguyệt hãm, Đà; Hổ Tuế xung,
Hãi thay điềm mẹ thoát vòng trần gian,
Xét xem các lẽ luận bàn,
Mệnh, Thân, Vận hạn mọi đàng cho minh.

Lê Quang Đạo: ĐT 0983225079
Mail: lequang306@gmail.com


Chủ Nhật, ngày 26 tháng 7 năm 2015

Xem Quẻ dịch

         Có mấy quẻ xem cho vui
      
       1.Ngày 18/7 QTị, lúc khoảng 20h, Võ Hồng Quảng ở Sài Gòn điện ra báo vừa bị mất xe máy tay ga mới mua, đi làm về để ngay trước cửa không khóa, vào nhà một lúc quay ra không thấy xe đâu nữa, hỏi có tìm được không? Lập tức độn một quẻ được Tổn biến Lâm. Đoán không mất, xe chưa thể đem đi xa, hãy khẩn trương tìm ngay sẽ thấy. Khoảng 1 giờ sau anh ấy điện ra cám ơn và báo tin là đã tìm được. Số là người hàng xóm thấy xe của Hồng Quảng đi về để ngay trước cửa không khóa, anh bèn dắt vào nhà minh cho an toàn.
   
       2.Ngày 14/4/ al, vẫn anh Võ Hồng Quảng ở Sài Gòn điện ra báo bị mất sổ đỏ giấy tờ nhà đất, hỏi có tìm được không?  Độn được quẻ Bỉ, biến Thiên thủy tụng. Đoán không mất , để lẫn ở đâu đó, cố gắng tìm. Hai ngày sau anh điện ra báo tin là đã tìm thấy. Linh thật.
        
         3.Lúc 11h30, ngày 6/1 anh Nguyễn Cường ở Hà Nam do quá trình làm ăn gặp khó khăn, có dính líu đến pháp luật, bị công an tìm đến. Hỏi có thể qua được không? Sự việc tốt xấu thé nào.Nghe xong liền độn một quả, được Đăng minh lâm Ngọ. Quẻ tốt. Liền báo ra là hãy bình tĩnh, mọi việc rồi sẽ qua:
             Trong Hỏa là Ly, ngoài Mộc là Chấn, quẻ Chu dịch là: Lôi Hỏa Phong, Phong nghĩa là: thịnh và đầy đủ, ngôi khách ở ngoài sinh ngôi chủ ở trong, Tốt. Muà Xuân bình hoà, muà Hạ rất tốt, muà Thu xấu, muà Đông trung bình.-Tượng quẻ: Nhật lệ trung thiên cách ( Mặt trời sáng đẹp ở giữa trời ).-Ý đoán: đang ở nơi tối tăm được ra ánh sáng.
           Có thơ rằng: Đăng Minh lâm Ngọ cho minh,Trong Hỏa ngoại Mộc tương sinh quẻ này, Quẻ Lôi  Hỏa  Phong  bằng nay, Phong là  thịnh đủ cho hay sự tình, Trung  thiên nhật lệ cát trinh,Quẻ rằng: nội ngoại tương sinh tốt lành, Kỳ thiên quốc báo rành rành, Muôn dân vui vẻ tập tành xướng ca, Sau đó quả nhiên anh vẫn được bình an. Hiện nay anh Nguyễn Cường đã ra nước ngoài làm việc.

            4.Sau vụ trọng án giết chết 6 người ở Bình Phước xẩy ra mấy ngày, khoảng 9h sáng có người hỏi khi nào thì bắt được hung thủ. Gieo một quẻ dịch, ngày Đinh Hợi, tháng Nhâm Ngọ, được quẻ Hỏa thủy vị tế, hào 2, hào 4, hào 6 động, biến quẻ Khôn vi địa (lục xung).

HỎA THỦY VỊ TẾ
--- Huynh Đệ Tỵ Hỏa (Ứng) *
- - Tử Tôn Mùi Thổ
--- Thê Tài Dậu Kim *
- - Huynh Đệ Ngọ Hỏa (Thế)
--- Tử Tôn Thìn Thổ *
- - Phụ Mẫu Dần Mộc


Quỷ hợi phục ẩn dưới hào 3 huynh đệ. Đoán: Có thể ngày hợi hoặc tháng hợi thì bắt được. Quẻ có thể có liên quan tiền và tình, hung thủ nấp dưới danh nghĩa là người nhà, bạn bè, anh em Quả nhiên đến tối ngày Hợi (25/5 AL tức 10/6 DL) cả 2 hung thủ đều bị bắt.Và hung thủ vốn là người quen thân với gia đình, từng là người yêu cũ của con gái gia chủ. Nghiệm thật.
     
        5. Bà Trần Thị Nga ở thành phố Nam Định, do bị đột quỵ, sức khỏe yếu, ăn ngủ kém. Ngày 20/5/2015 âm lịch. Tự gieo quẻ hỏi tình hình bệnh tật thế nào? Ngày Nhâm ngọ, tháng Quý mùi năm ất mùi. Gieo được quẻ lục hào Lôi trạch quy muội, hào 3,5 động, biến Trạch thiên quải.

LÔI TRẠCH QUY MUỘI
Bh- - Phụ Mẫu Tuất Thổ (Ứng)
Px- - Huynh Đệ Thân Kim *
Ctr--- Quan Quỷ Ngọ Hỏa
Ct- - Phụ Mẫu Sửu Thổ (Thế) *
TL--- Thê Tài Mão Mộc
Hv--- Quan Quỷ Tỵ Hỏa


TRẠCH THIÊN QUẢI
- - PM Mùi Thổ
---HĐ Dậu Kim (Thế)
---Tử Hợi Thủy
---PM Thìn Thổ
---Tài Dần Mộc (Ứng)
---Tử Tí Thủy


Thế vương, thế lâm nguyệt kiến, thái tuế, được nhật thần sinh. Thế có gốc rễ, an tâm được. Quan quỷ Ngọ hỏa mùa hè đương vượng. Đoán sang mùa thu quỷ suy, bệnh xẽ đỡ dần. Có thể thế quá vượng nên cần đợi đến tháng nhập mộ (thìn) thì sẽ hồi phục bình thường.
   
      6. Cô Quỳnh, Nghệ An bị mất máy tính xách tay, hỏi có tìm được không? Gieo được quẻ Thủy thiên nhu, hào 5 động biến quẻ Địa thiên thái (lục hợp), quẻ chủ thể sinh dụng, quẻ biến dụng sinh thế. Đoán có thể bỏ quên đâu đó chứ không phải mất trộm.Quả nhiên ngày hôm sau tìm được, do bỏ quên ở nhà bạn.
   
       7. Cô Vũ Thị Thơm, sinh viên đại học sư phạm Hà Nội, ngày 9/5 al, tức ngày Tân mùi, tháng Nhâm ngọ, hỏi về Tài phúc trọn đời. Gieo được quẻ lục hào Phong địa quán, hào 4 thế phụ mẫu mùi thổ động, biến hồi đầu sinh.

PHONG ĐỊA QUAN
--- Thê Tài Mão Mộc
--- Quan Quỷ Tỵ Hỏa
- - Phụ Mẫu Mùi Thổ (Thế)* -------  Quan quỷ ngọ hỏa
- - Thê Tài Mão Mộc
- - Quan Quỷ Tỵ Hỏa
- - Phụ Mẫu Mùi Thổ (Ứng)

Hào thế lâm nhật nguyệt, vượng, động, biến hồi đấu sinh. Hào quan vượng sinh thế. Thế ứng tỳ hòa. Đoán cuộc đời tốt đẹp, tài phúc vẹn toàn.
        
         8. Cô Trần Thị Huyền, sinh viên HN, ngày 5/6 al tức ngày Đinh dậu, tháng Quý mùi, năm Ất mùi. Xin quẻ hỏi về tình duyên và hôn nhân. Gieo được quẻ Trạch địa tụy, hào 1,2 động, biến Đoài.

TRẠCH ĐỊA TỤY
- - Phụ Mẫu Mùi Thổ
--- Huynh Đệ Dậu Kim (Ứng)
--- Tử tôn Hợi Thủy
- - Thê Tài Mão Mộc
- - Quan Quỷ Tỵ Hỏa (Thế) *
- - Phụ Mẫu Mùi Thổ *
Hào thế quan quỷ tỵ hỏa lâm thế, động biến thê tài mão mộc, biến hồi đầu sinh. Phụ mẫu mùi thổ biến Quan quỷ tỵ hỏa. Đoán: Thế lâm quan quỷ là Sự thể lâm thân, tốt. Thế động biến hồi đầu sinh. Tốt. Hôn nhân đến nhanh, thuận lợi.
 

Lê Quang Đạo: (Lequangtct trên diễn đàn Lyso.vn), Tp Vinh, Nghệ An
ĐT: 0983225079
Mail: lequang306@gmail.com