Thứ Hai, 26 tháng 3, 2018

Tìm hiểu lịch sử

Tìm hiểu lịch sử:
Trong việc bành trướng lãnh thổ vào phương Nam vào thời "CÁC CHÚA NGUYỄN "
Đa số các dân tộc/ vương quốc lân cận đều bị các Chúa thu phục một cách tâm phục khẩu phục.
Họ tự quy phục và nhờ Chúa đặt quyền bảo hộ lên lãnh thổ của họ.
Một số nhớ công Chúa dẹp giặc dùm nên dâng đất trả ơn như chuyện tổng trấn Hà Tiên - Ông Mạc Cửu.
Một số thì xua binh gây hấn với Đàng Trong cũng bị Chúa thu phục và tự động cắt đất dâng Chúa đầu hàng.
Các Chúa chưa bao giờ tấn công ra Bắc Hà mà chỉ đánh trong thế tự vệ, tập trung lo xây dựng bờ cõi, mở rộng lãnh thổ về Phương Nam.
Nhà sử học Trần Trọng Kim trong tác phẩm Việt Nam sử lược ( Chương VI: Công việc họ Nguyễn làm ở miền Nam) đã viết : ” Còn những công việc họ Nguyễn làm ở phía Nam quan trọng cho nước Nam ta hơn cả, là việc mở mang bờ cõi, khiến cho nước lớn lên, người nhiều ra, và nhất là chiêu mộ những người nghèo khổ trong nước đưa đi khai hóa những đất phì nhiêu bỏ hoang, làm thành ra Nam Việt bây giờ phồn phú hơn cả mọi nơi, ấy là cái công họ Nguyễn với nước Nam thật là to lớn lắm vậy”.
Đầu thế kỷ 17, xứ Quảng Nam (gồm cả Quảng Ngãi và Quy Nhơn) là vùng đất cực nam của Đại Việt giáp với Chiêm Thành. Năm Tân Hợi (1611) chúa Nguyễn Hoàng đánh Chiêm Thành lấy đất lập ra phủ Phú Yên, chia ra làm hai huyện là Đồng Xuân và Tuy Hòa.
Năm Quý Tỵ 1653, vua nước Chiêm là Bà Thấm sang quấy nhiễu ở đất Phú Yên, chúa Hiền là Nguyễn Phúc Tần sai quan cai cơ là Hùng Lộc sang đánh. Bà Thấm xin hàng. Chúa Nguyễn lấy đất đặt làm phủ Diên Khánh ( Khánh Hòa bây giờ).
Năm Quý Dậu 1693, vua Chiêm là Bà Tranh bỏ không tiến cống, chúa Nguyễn là Nguyễn Phúc Chu sai quan tổng binh là Nguyễn Hữu Cảnh đem quân đi đánh, bắt Bà Tranh đem về Phú Xuân, đổi đất Chiêm Thành làm Thuận phủ, qua năm 1697 lại đổi làm phủ Bình Thuận, lấy đất Phan Rí, Phan Rang làm huyện Yên Phúc và huyện Hòa Đa. Nước Chiêm Thành bị diệt.
Năm 1698 chúa Nguyễn Phúc Chu sai Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh làm Khâm sai Kinh lược sứ, vào nam lập phủ Gia Định gồm hai huyện : huyện Phước Long ( Đồng Nai) dựng dinh Trấn Biên và huyện Tân Bình (Sài Gòn) dựng dinh Phiên Trấn (11); lại chiêu mộ những kẻ lưu dân từ Quảng Bình trở vào để lập ra thôn xã và tha thuế để khuyến khích khai khẩn ruộng đất.
Những người Tàu di dân ở đất Trấn Biên thì lập làm xã Thanh Hà, những người ở đất Phiên Trấn thì lập làm xã Minh Hương. Những người Tàu này đều thuộc sổ bộ dân nước ta. Phủ Gia Định khi ấy dân số ước chừng bốn vạn hộ ( 20 vạn người).
Năm 1708, Mạc Cửu cai quản đất Hà Tiên (kể cả Phú Quốc) xin thuộc về Đàng Trong. Chúa Nguyễn chấp thuận, lập ra trấn Hà Tiên, để Mạc Cửu làm Tổng binh giữ đất ấy.
Năm 1732, vua Sâtha của Chân Lạp xin cắt hai vùng Peam Mesar (Mỹ Tho) và Longhôr (Vĩnh Long) dâng chúa Nguyễn Phúc Trú (Thái) để tạ ơn dẹp loạn. Chúa Nguyễn đặt dinh Long Hồ và lập châu Định Viễn.
Năm 1735, Mạc Cửu qua đời, con là Mạc Thiên Tứ được chúa Nguyễn cho nối chức, tiếp tục mở rộng Hà Tiên đến Rạch Giá và Cà Mau. Năm 1757, chúa Nguyễn đặt ra đạo Kiên Giang (Rạch Giá) và đạo Long Xuyên (Cà Mau) đều thuộc về Trấn Hà Tiên.
Năm 1753, vua Chân Lạp là Chey Chêtthâ V (tức Nặc Nguyên) bị chúa Nguyễn Phúc Khoát sai Nguyễn Cư Trinh cử binh phạt tội vì thông sứ với chúa Trịnh và ức hiếp người Côn Man (dân Chămpa lưu vong). Năm 1755 vua Chân Lạp bị đánh thua, bỏ thành Nam Vang chạy sang Hà Tiên nhờ Mạc Thiên Tứ giúp tâu với chúa Nguyễn xin nộp hai vùng đất Tầm Bôn và Lôi Lạp ( Tân An và Gò Công) để tạ tội. Chúa Nguyễn cho nhập hai vùng đất ấy vào châu Định Viễn.
Năm 1759, Nặc Nguyên mất, chú là Nặc Nhuận xin dâng hai vùng đất Trà Vinh và Sóc Trăng để được công nhận là vua Chân Lạp. Đến đây thì toàn bộ bờ biển hình chữ S của nước ta đã định hình.
Năm 1760, Nặc Nhuận bị rể là Nặc Hinh giết chết. Quan tổng suất triều Nguyễn là Trương Phúc Du đem quân sang đánh. Nặc Hinh thua chạy và bị giết. Con Nặc Nhuận là Nặc Tôn (Ang Tong) được lên nối ngôi vua Chân Lạp, xin dâng đất Tầm Phong Long ( Sa Đéc) để tạ ơn. Đến đây thì quá trình Nam tiến kể như hoàn tất.
Nặc Tôn lại dâng năm phủ là Kampot, Kompong Som, Chal Chun, Bantey Méas, và Raung Veng để tạ ơn Mạc Thiên Tứ. Chúa Nguyễn Phúc Khoát cho nhập tất cả vào trấn Hà Tiên. Năm 1841, vua Thiệu Trị trả năm phủ ấy lại cho Chân Lạp, ngày nay là hai tỉnh Kampot và Tà Keo.
Nhà thơ Nguyễn Duy đã viết những dòng ray rứt : ” Nhà Nguyễn đã có công lao rất lớn đối với nước Việt Nam, đó là một sự thật hiển nhiên, vậy mà không hiểu tại sao và từ lúc nào, lại bị bóp méo đến biến dạng, bị sai lệch đi trong cái nhìn chính thống, bị ruồng bỏ nhiều bài vị tôn kính, bị xóa tên đường phố nhiều vua chúa kiệt xuất."
ST

Thứ Hai, 29 tháng 1, 2018

THẦN KHÍ NGÔI NHÀ - THANH TỊNH TRƯỜNG KHÍ NGÔI NHÀ.

Chia sẻ 1 chút về Phong Thủy. Rất dài và là món quà cho ai hữu duyên đủ kiên nhẫn đọc.
Ai hay gặp xui cũng nên xông nhé.
Bất cứ khi nào nếu muốn bạn có thể xông nhà hết nhé.
Nhà mới thì cần thiết và nên làm.
THẦN KHÍ NGÔI NHÀ - THANH TỊNH TRƯỜNG KHÍ NGÔI NHÀ.
Một ngôi nhà sạch sẽ thoáng mát sẽ mang lại năng lượng phong thuỷ tốt cho gia đình bạn. Muốn chiêu tài lộc may mắn vượng khí thì điếu đầu tiên cần làm cho ngôi nhà bạn sạch sẽ từ vật chất hữu hình đến vô hình (chính là thần khí ngôi nhà).
Giống như đa số con người, người hạnh phúc thì gương mặt luôn tươi tắn hồng hào, người kém may mắn thì gương mặt sẽ khắc khổ u ám. Bởi vậy mới nói tướng tại tâm sinh.
Mọi ngôi nhà đều có thần khí trong nhà, có những ngôi nhà khi ta bước vào thấy cảm giác mát mẻ dễ chịu, cũng có ngôi nhà bước vào t thấy ngột ngạt khó chịu. Khi tinh thần mọi người trong ngôi nhà vui vẻ hạnh phúc, thì như có một vầng hào quang hạnh phúc tỏa khắp ngôi nhà. Ngược lại khi tinh thần trong ngôi nhà không được hạnh phúc, từ sự bất hòa nó phát ra những rung động quạnh hiu buồn chán.
Còn gọi là bầu không khí trong nhà.
Vì vậy hãy nghĩ tinh thần của ngôi nhà là một tổng thể năng lượng, phản ứng lại những biến cố và con người đang cư ngụ bên trong nó. Rất ít người nhận ra rằng tinh thần hay năng lượng của ngôi nhà có mối liên quan mật thiết với những thành viên và tổng năng lượng dao động của những thành viên đóng vai trò rất quan trọng để xác định tính chất năng lượng của ngôi nhà.
Khi mua lại nhà cũ người ta thường quan tâm đến chủ cũ của ngôi nhà sống ở đó như thế nào, nếu chủ cũ không may mắn, ly dị hay phá sản người ta thường nói ngôi nhà đó có “zớp”.
Nhà mang phẩm chất năng lượng của những người sống trong nhà đó, một gia đình hạnh phúc sẽ có bầu không khí hạnh phúc, bầu không khí tươi vui cởi mở sẽ thu hút những xung động dương. Ngược lại nhà có không khí chán nản buồn tẻ sẽ thu hút năng lượng Âm. Từ những phản ứng và hậu quả tiêu cực. Nhà âm khí hay dương khí đa phần do con người sống trong nhà tạo nên.
Làm sạch vùng không gian sống không dừng lại ở việc làm sạch không gian vật chất của ngôi nhà, điều quan trọng và cần thiết là cần phải làm sạch những tạp niệm mang năng lượng âm còn tồn tại trong tâm trí, có thể mời những người vui vẻ đến nhà để thu hút dương khí cho ngôi nhà.
Hãy quyết tâm làm cho vùng không gian sống của bạn được nhẹ nhàng sáng sủa đầy sinh khí để xua tan bệnh tật và vận rủi.
LÀM SẠCH KHÔNG GIAN SỐNG BẰNG THẢO DƯỢC RẤT HIỆU NGHIỆM

Mấy bài thuốc này theo chuẩn đông y với :
1. Quân chủ
2. Thần Tử
3. Tá thần
4. Sứ lệnh
5. Trục quan
6. Sĩ binh
7. Dẫn dược
Có thể hỏi bên đông y theo khẩu quýêt quân thần tá sứ, trục sĩ lệnh binh.
Loại thào dược bạn dùng phải được sống ở vùng núi cao, tỏa ra mùi hương được hấp thụ khí trời nên khí rất tinh khiết,Cần chú ý vùng không gian mà thảo dược sinh sống, nơi đó nếu không khí tinh khiết thì năng lượng trong lá thảo dược sẽ đầy sinh khí.Hương liệu làm nhẹ bớt và hóa giải năng lượng âm rất hiệu quả.
Có nhiều loại hương liệu cho bạn sử dụng, ví dụ như gỗ đàn hương, cây oải hương, trầm.
Đàn hương khi được đốt trong vùng không gian bạn đang sinh sống bạn có thể cảm nhận được tác dụng hàn gắn xoa dịu tinh thần của nó rất nhanh. Đàn hương hấp thụ tất cả năng lượng âm trên bề mặt mọi vật như: quần áo, tường sàn nhà và trong không khí. Có hiệu quả nhất khi kết thúc 1 buổi tẩy rửa bằng cách thắp lên vài nén hương gỗ đàn.
Đốt Trầm khiến hương thơm tự nhiên lan tỏa miền không gian sống, sẽ kích hoạt những miền năng lượng tinh tế.
Tinh dầu và hương thơm có năng lượng hàn gắn và xoa dịu rất mạnh. Và mang lại hiệu quả lớn về tinh thần.
MỘT SỐ BÀI THUỐC XÔNG NHÀ PHỔ BIẾN nếu ko có bài trên thì làm theo 4 bài này. (Tìm mua tại tiệm đông y nhé) khi xây nhà mới hay trước khi dọn đến ở chúng ta nên xông nhà để tẩy sạch âm khí, những khí xấu còn lưu lại từ thợ hồ hay chủ trước nhé)
Bài 1: A quỳ 6 chỉ,Đinh hương 4 chỉ, Long não 2 chỉ, xương bồ 4 chỉ, quỷ kiếm sầu 4 chỉ, đại hồi 6 chỉ, tiểu hồi 2 chỉ, tam nại 4 chỉ,nhục quế 4 chỉ, châu sa 6 chỉ, đàn hương 6 chỉ
Bài 2: Châu sa 5 chỉ, Thần sa 5 chỉ,A quỳ 7 chỉ, Đại tướng quân 3 chỉ, thương nhĩ tử 3 chỉ, tật lê 2 chỉ, kinh giới 5 chỉ, bạc hà 2 chỉ, Long não 2 chỉ, thương truật 3 chỉ, câu đằng 3 chỉ, tùng hương 3 chỉ, hồng hoa 3 chỉ, xích thược 2 chỉ, đàn hương 4 chỉ.
Bài 3; (giải phong long) Xông phong long tử (nam 7 nữ 9) loại gai, châu sa thần sa, nửa lon muối sống, 2 muỗng ớt bột khô, 10 củ nén.
Bài 4: Phòng phong, Kinh giới, nha tạo, tế tân, kim tinh ngân tinh số lượng tùy ý, Nếu âm khí nặng cho thêm a quỳ, quỷ kiếm sầu,đinh hương.
Đơn giản hơn thì hoắc hương quế chi trần bì ngải cứu bạc hà mỗi thứ 3 lạng.
nên xông ngày trực trừ, vào 6h-11h30-18h trong ngày. khi xông nên đọc thêm câu chú:
" Tống khứ hung khí, uế khí, tà khí, yêu khí, cởi dị phong long, tiêu sản (nhà có bầu thì bỏ qua câu này) ma mới ma cũ người quá khứ khô cốt cấp cấp tẩu tán."
khi xông nên bật đèn sáng và mở hết các tủ trong nhà. Cửa sổ đóng lại chỉ hé cửa chính. Xong việc thì mở cửa sổ và quạt cho khói bay ra ngoài.
đi khắp các phòng và cuối cùng quay lại phòng khách. nam bớc qua 7 lần nữa bước qua 9 lần.
Xông xong để nguội đổ ra ngã ba đường.
THANH TỊNH TỪ TRƯỜNG TRONG NHÀ
Thường thì cuối năm chúng ta hay quét dọn nhà cửa “trừ cựu nghinh tân” mà quên thanh tịnh từ trường ngôi nhà. Cách làm rất đơn giản:
Chuẩn bị 1 bao muối hột (chưa sử dụng) , một thùng nước, đổ 2/3 nước sau đó đổ muối biển vào thùng nước. Giờ tý đêm giao thừa (11h-1h) đem thùng nước để chính giữa căn phòng, (ko cần di động).
Ngày mùng 1 tết giờ thân (3-5 h chiều) đem thùng nước muối ra ngõ đổ vào cống.
Nguyên nước biển là nước của đại dương, mà nước của đại địa tổng nhiếp các lực lượng âm dương, dương khí rất mạnh, chúng ta đặt giữa phòng tất thu hết âm khí thậm chí cả âm linh. Toàn bộ bị hút vào trong đó (âm dương hút nhau) khi đem đổ nước hồi quy đại địa, thì căn nhà được thanh tịnh.
Ngày thường có thể làm nhưng phải vào ngày trực trừ mới có hiệu nghiệm.

Thứ Năm, 4 tháng 1, 2018

Nhớ hương vị Bánh ong ngày Tết



Trong cái không khí hối hả của ngày tết đang tràn ngập khắp mọi nơi, có lẽ trong những ngày này dù ở đâu, làm gì trong mỗi chúng ta đều nhớ về quê hương với những cái tết đầm ấm bên gia đình...
Tôi đã được đón tết ở nhiều vùng quê khác nhau, được thưởng thức nhiều món ăn độc đáo ngày tết nhưng vẫn không thấy nơi đâu có được món ăn độc đáo như món bánh ong ở Nghệ An quê tôi. Không biết món ăn đó có từ bao giờ, ai đã sáng tạo ra nó chỉ biết rằng món ăn đó vẫn còn tồn tại cho đến hôm nay, đặc biệt vào mỗi dịp tết món ăn đó đựoc làm phổ biến ở mỗi gia đình.
Ở quê tôi trong những ngày này, cùng với sự hối hả, tất bật để chuẩn bị các vật phẩm cho một cái tết thật đầy đủ thì người dân không quên chuẩn bị nguyên liệu để chế biến bánh ong. Món bánh ong được người dân quê tôi làm vào đầu tháng chạp nhưng phổ biến từ 23 tháng chạp cho tới trước thời điểm giao thừa. Thông thường cứ vào đầu tháng chạp là người dân quê tôi đã chuẩn bị gạo nếp, mât mía (mật nước), gừng, lạc... là những nguyên liệu chính để làm nên món bánh ong đặc trưng.
Món bánh ong hầu như ai cũng làm được nhưng để có được món bánh ong ngon, màu sắc bắt mắt và mọi người yêu thích thì không hề đơn giản. Làm bánh ong đòi hởi sự kinh nghiệm, khéo léo và đôi tay chắc khoẻ. Thường thì làm bánh ong ít nhất cần có 2 người.
Có thể làm theo một trong hai cách sau đây:
1. Trước tiên phải chuẩn bị nguyên liệu gồm: gạo nếp rang nghiền thành bột, mật mía nước, thường thì bánh ong được làm theo tỉ lệ, 1kg bột với 2 chai mật mía, gừng thái chỉ cắt ngắn, lạc rang. Tiếp đến là đổ mật vào nấu sôi tới khi nào lấy đũa nhúng vào và giơ lên thấy mật không còn nhỏ thành giọt chảy xuống thì giảm nhỏ lửa; một người cho gừng, lạc vào, một người dùng đũa khuấy đều, rồi tiếp tục đổ từ từ từng ít bột gạo nếp vào rồi đánh mạnh, đều tay cho tới khi các nguyên liệu quyện vào nhau đặc quánh, có mùi thơm đặc trung của bánh ong thì nhắc nồi xuống, dùng thìa múc ra đổ vào khuân gỗ hình vuông, chờ cho bánh nguội là có thể dùng được.
2. Nguyên liệu gồm:
Thóc nếp 1kg; Mật mía 500g; Lạc 200g; Vừng trắng 100g; Gừng 20g; Vỏ quýt tắt ½ cái; Va ni 10 giọt. (Nếu muốn làm nhiều hơn thì theo tỷ lệ mà nhân đôi, nhân ba lên…)
Cách làm:
Thóc nếp để nguyên cả vỏ đem rang chín thành nổ, sau đó xát bỏ vỏ lấy nổ tán thành bột mịn. Vừng và lạc rang vàng, xát bỏ vỏ lụa.
Gừng tươi bóc vỏ, rửa sạch giã nhuyễn. Vỏ quýt thái thật mỏng.
Cho mật mía vào nồi gia thêm ít nước cho lên bếp đun sôi, cho gừng và vỏ quýt vào quấy đều, lọc qua vải cho nước mật được trong.
Bắc lên bếp đun lại cho đến lúc thấy sền sệt, dúng muôi lấy một ít mật ra, nhỏ vài giọt vào một chén nước, thấy mật bắt đầu đông keo thì cho lạc và vừng rang vào. Việc xác định thời điểm cho mật vào rất quan trọng. Nếu cho bột vào quá sớm bánh thành phẩm sẽ bị nhão. Nếu cho vào quá muộn thì bánh thành phẩm sẽ bị quá cứng. Khi đang cho bột vào, để không bị khê nồi, nên dụi bớt lửa chỉ để ở chế độ than nóng, rồi vừa quấy vừa gia bột vào từ từ cho đến khi hết ¾ bột. Quấy đều tay cho đến khi cảm giác bột trong nồi nổi lên, trong và quánh lại là được. Phần bột còn lại đổ 2/3 ra mâm, trút nồi bột ra rồi nhồi cho thật mịn đến khi không còn dính tay thì đem đổ vào khuôn.
Rải một lớp vừng rang vào đáy khuôn, trút nồi bột vào, dùng thìa dàn đều và éo vào khuôn, rắc thêm một lớp bột áo lên trên, rồi ém chặt xuống, để nguyên khuôn đóng cho đến khi nguội mới được mở ra, khi dùng cắt thành từng lát mỏng cỡ khoảng gần 1cm, bày ra đĩa để ăn hoặc đãi khách.

Món bánh ong ngon phải có màu nâu nhạt, có mùi thơm đặc trưng của gừng, của lạc, của vỏ quýt, vị cay của gừng, vị ngọt đậm đà của mật mía… Món bánh ong chỉ đơn giản vậy thôi nhưng nó đã phổ biến ở quê tôi từ bao đời nay vào mỗi dịp tết và là một món ăn làm phong phú thêm hương vị tết cổ truyền của dân tộc.
Món bánh ong được dùng để thắp hương trên bàn thờ ngày tết, tiếp đãi bạn bè trong dịp tết… đặc biệt món bánh ong có thể để được rất lâu, tới hàng tháng trời vì vậy có thể làm quà biếu cho người thân ở xa. Ngày tết với nhiều thứcc ăn dầu mỡ thì món bánh ong được xem là món đặc biệt hấp dẫn với người dân quê tôi. Ăn bánh ong và thưởng thức bát nước chè xanh đậm đà thì phải nói là tuyệt diệu.
Với tôi, không thể quên được cái không khí ngày tết lạnh giá của mùa đông, ngồi quây quần bên gia đình trò chuyện, thưởng thức những lát bánh ong màu nâu đậm đà bên bếp lửa hồng, cảm giác đó thật đầm ấm, thân thương và khó quên đối với tôi.
Tuy ngày nay đời sống ở quê tôi được nâng cao, kinh tế ổn định cùng với sự phong phú của nhiều loại bánh, người dân có điều kiện để thưởng thức nhiều loại bánh khác nhau nhưng món bánh ong không vì thế mà không được xem trọng. Vào mỗi dịp tết món bánh ong đặc biệt hấp dẫn này vẫn là món không thể thiếu ở nhiều gia đình làng quê xứ Nghệ./.

Thứ Ba, 26 tháng 12, 2017

PHONG THỦY NĂM MẬU TUẤT 2018 VÀ NHỮNG ĐIỀU CẦN LƯU Ý.

PHONG THỦY NĂM MẬU TUẤT 2018 VÀ NHỮNG ĐIỀU CẦN LƯU Ý.
luongthienxich.blogspot.com
Phong thủy lưu niên được các học giả, nhà nghiên cứu và thầy Phong thủy rất coi trọng. Đây là phương pháp tính toán vận khí cát hung, tùy vào từng năm mà dời chuyển tạo nên sự thăng trầm trong gia đạo mỗi nhà, cho nên phương pháp xác định và luận đoán Lưu niên Phong thủy luôn được coi là bước then chốt để bài trí lại không gian ngôi nhà trong những ngày đầu năm mới nhằm đón lành tránh dữ.
Năm Mậu tuất có Can chi đều thuộc hành Thổ, Nạp âm ngũ hành là Bình địa mộc. Nam sinh năm này có Cung phi là Ly, nữ có Cung phi là Càn.
Thời điểm Lập xuân nhằm ngày 04.02.2018 (19.12.Đinh dậu).
Về tổng quan, các nhà Phong thủy đều nhận định năm Mậu tuất này đại lợi ở trục Càn – Tốn, Hợi – Tị. Bất lợi tại trục bắc – nam và Thìn – Tuất, vì vậy những phương vị trên sẽ có biến động lớn rất đáng lưu tâm. Lưu niên phi tinh chiếu tới cửu cung cụ thể như sau:
1. Trung cung: Sao Cửu tử, Tuế đức chiếu tới.
Đây là Sinh khí của vận 8 Hạ nguyên, đồng thời cũng chủ về sự vui mừng, cát khánh. Nếu nhà tọa Tốn hướng Càn, tọa Càn hướng Tốn, tọa Tị hướng Hợi, tọa Hợi hướng Tị mà thúc đẩy khí trường này trong năm nay sẽ đại lợi về tài lộc và nhân đinh.
Tuế đức là đức thần của Thái tuế, chiếu tới trung cung thì vạn phúc tụ về đây, mọi tai họa tự nhiên tránh xa, bởi vậy trung cung được coi là nơi cát tường trong năm nay, nếu có khởi công, tu tạo tại nơi này cũng cũng được Phúc khí phù trợ.
Những nhà hướng đông bắc và tây nam lại không thích hợp dùng Sao Cửu tử khi Sao này nhập trung cung. Nếu dùng có khi lại mang họa.
Nên dùng trường minh đăng và một chậu cây Thiết mộc lan đặt tại đây để cầu tài lộc và sức khỏe. Riêng nhà hướng đông bắc và tây nam nên treo hồ lô Bát Tiên hoặc chuông gió kỳ lân.
2. Hướng bắc: Sao Ngũ hoàng chiếu tới, Tuế đức hợp đóng tại cung Quý.
Ngũ hoàng là Sao hung sát bậc nhất trong lý luận Phong thủy, những nhà nào bị Ngũ hoàng chiếu tới hướng, tới tọa sơn, tới vị trí cửa chính và bếp thì đều cầm chắc sự hao tán về tài lộc hoặc sức khỏe, nhất làm năm nay Ngũ hoàng với Tam sát đồng cung, càng làm cho cái xấu thêm dữ dội.
Bởi vậy hướng bắc trong năm nay đại kỵ xây dựng, tu tạo, động thổ, phạm phải tất sẽ có điều hung hại xảy ra.
Nên dùng gương Bát quái đồng, hồ lô đồng hoặc chuông gió đồng để hóa giải.
3. Hướng đông bắc: Sao Tam bích chiếu tới, Bác sĩ đóng tại cung Cấn.
Tam bích là Suy khí của vận 8 Hạ nguyên này, lại là Sao ưa thích sự đấu đá, tranh cãi, thị phi... nhất là tháng 7 âm lịch. Lưu niên Tam bích và Lưu nguyệt Nhị hắc hợp thành cục thế “Đấu ngưu sát”, hạn thị phi càng nặng. Tháng 2 và 11 âm lịch, Lưu nguyệt Thất xích hợp thành cục thế “Xuyên tâm sát” sẽ gây nên hạn trộm cướp, tranh công.
Nên đặt trường minh đăng tại hướng đông bắc để hóa giải.
Nhà tọa Khôn hướng Cấn có thể động thổ, tu tạo trong năm nay.
4. Hướng đông: Sao Thất xích chiếu tới, Tuế chi đức đóng tại cung Mão.
Thất xích là Sao chủ về đấu đá, xung đột, cướp đoạt, vì vậy còn được gọi là “Tặc tinh”. Sao này chiếu đến hướng nhà cũng gây nên sự chẳng lành. Các tháng 1 và 10 âm lịch, Lưu nguyệt Tam bích chiếu đến hướng đông, hợp thành cách “Xuyên tâm sát” nên cần đề phòng trộm cướp. Tháng 7 âm lịch Lưu nguyệt tinh Lục bạch hợp với Thất xích thành cách “Thương kiếm sát”, chủ về đánh lộn, thương tật.
Nên đặt một bể cá, bên trong nuôi một con cá màu đen để hóa giải. Cũng có thể dùng nước an nhẫn để giải Thất xích. Hai pháp trên có công dụng như nhau.
Ngoài ra, Lưu niên Đào hoa cũng chiếu tới hướng nhà này, bởi vậy dễ phát sinh chuyện tình cảm trong năm nay.
Nhà tọa Dậu hướng Mão có thể khởi công, động thổ, tu tạo trong năm nay.
5. Hướng đông nam: Sao Bát bạch chiếu tới, Tuế lộc đóng tại cung Tị.
Đây là Vượng khí của vận hiện tại. Những nhà tọa Càn hướng Tốn và tọa Hợi hướng Tị thì nhất định đón được Phúc khí của Bát bạch, tài lộc, gia đạo thăng tiến. Hơn nữa hướng đông nam năm nay lại đón thêm Thiên lộc chiếu về, càng gia tăng cơ hội chiêu tài bảo cho những nhà có hướng trên. Duy chỉ có nhà tọa Tuất hướng Thìn chính hướng thì sẽ hung hại do vận nhà suy bại, gặp Bát bạch chiếu tới thì càng hung, hơn nữa nhà hướng Thìn bị Tuế phá nên vận trình gia đạo trong năm nay bị tiêu cực không nhỏ.
Nên đặt bể cá, đài phun nước, trường minh đăng để chiêu tài. Riêng nhà hướng Thìn nên treo phù Thái tuế.
Nhà tọa Càn hướng Tốn, Tọa Hợi hướng Tị có thể khởi công, động thổ, tu tạo trong năm này, duy nhà tọa Tuất hướng Thìn thì đại kỵ.
6. Hướng nam: Sao Tứ lục chiếu tới.
Tứ lục là Văn Khúc tinh, chủ về văn chương, học nghiệp, trong vận này là Suy khí nên không lợi cho tài lộc nhưng văn chức nhất định có tiến triển nếu biết dùng đúng phương pháp để thúc đẩy cơ hội về văn nghiệp.
Nên dùng tháp Văn Xương đặt tại đây để cầu công danh và thành đạt trong học tập.
Nhà tọa bắc hướng nam nói chung đại kỵ khởi công xây dựng trong năm nay, bởi Sát khí Ngũ hoàng và Tam sát đáo tọa, khởi công tất dẫn đến hung sát. Chỉ nên tu tạo nhỏ tại hướng nam.
7. Hướng tây nam: Sao Lục bạch chiếu tới, Âm quý nhân đóng tại cung Mùi, Tấu thư đóng tại cung Khôn, Tuế mã đóng tại cung Thân.
Lục bạch là Suy khí của vận 8 Hạ nguyên này, chuyên đem đến rắc rối bởi quan tai, pháp luật. Tháng 5 âm lịch, Lưu nguyệt Thất xích bay tới, hợp thành cách “Thương kiếm sát” nên đề phòng những chuyện gây gổ, đánh nhau hoặc bị kim khí khắc thương cơ thể.
Nên nuôi một con cá đen hoặc đặt một bình nước an nhẫn tại đây để hóa giải.
Những nhà hướng tây nam nói chung trong năm nay cũng đều có thể khởi công, động thổ, tu tạo.
8. Hướng tây: Sao Nhị hắc chiếu tới.
Nhị hắc là Tử khí, lại chủ về sự lây lan bệnh tật nên còn được gọi là “Bệnh tinh”, chiếu tới nhà nào thì tất sẽ đem đến những vấn đề tiêu cực về sức khỏe, bệnh tật khởi phát.
Nên dùng hồ lô đồng, gương Bát quái đồng để hóa giải.
9. Hướng tây bắc: Sao Nhất bạch chiếu tới.
Nhất bạch là Tiến khí của vận 8, chủ về tài lộc bình ổn, văn chức thuận lợi. Rất thích hợp đặt bể cá, đài phun nước tại đây để chiêu tài. Cũng có thể đặt tháp Văn Xương để thúc đẩy công danh.
Nhà tọa Tốn hướng Càn, tọa Tị hướng Hợi rất thích hợp khởi công, động thổ, tu tạo trong năm nay. Duy chỉ có nhà tọa Thìn hướng Tuất phải kỵ vì tọa sơn phạm Tuế phá.
Căn cứ vào những thống kê trên các bạn có thể cơ bản hình dung ra vận trình Phong thủy của ngôi nhà mình sẽ ra sao trong năm Mậu tuất, qua đó đưa ra những giải pháp đón lành tránh dữ phù hợp.
LƯỢNG THIÊN XÍCH
ThíchHiển thị thêm cảm xúc
Bình luận

Thứ Năm, 16 tháng 11, 2017

Tản mạn về Kỳ Môn Độn Giáp.

Tản mạn về Kỳ Môn Độn Giáp.
Trong tất cả những môn học thuật cổ phương Đông nói chung thì Kỳ Môn Độn Giáp là một môn có khả năng ứng dụng tổng hợp nhất với độ ứng nghiệm rất mạnh mẽ. Ứng dụng của nó trong cuộc sống được phân chia thành nhiều loại như sau :
- Kỳ môn luận đoán ( dự báo trước những vấn đề sẽ xảy ra trong tương lai )
- Kỳ môn dụng sự - xuất hành ( lựa chọn phương hướng ngày giờ khởi sự hoặc xuất hành, lựa chọn những phương vị địa lợi để đem lại lợi thế may mắn hơn đối thủ - áp dụng cho cả thương trường và chiến trường )
- Kỳ môn mệnh lý ( tương tự như các môn Bát tự, Tử vi, sử dụng Tứ trụ năm tháng ngày giờ sinh để bài bố Kỳ môn bàn, từ đó luận đoán tổng quan mệnh mỗi con người và căn cứ vào sự luân chuyển vận từng năm để đoán định cát hung )
- Kỳ môn phong thuỷ ( đây là một phương pháp phong thuỷ độc lập tương tự như Bát trạch hoặc Huyền không phi tinh - Lục pháp... nó căn cứ vào thời gian xây dựng ngôi nhà để tính vận theo tam nguyên cửu vận, lấy hướng của ngôi nhà và phương vị mở cửa để bài bố bát môn cửu tinh luận cát hung...)
- Kỳ môn thuật pháp ( là phương pháp sử dụng bùa chú ấn quyết để hỗ trợ mục đích mong muốn, người thực hành phải biết phương pháp vẽ bùa lục giáp lục đinh, tay bắt kiếm quyết chân bước theo Bộ cương đạp đẩu, lập trận thất tinh...nói chung là bộ môn này mang đậm màu sắp đạo giáo và tín ngưỡng ).
Kỳ môn độn giáp được truyền bá tại Việt Nam rất hiếm hoi hạn chế. Trên thị trường không có nhiều sách xuất bản về Kỳ Môn. Trước năm 1975 chỉ có hai cuốn sách được biết đến là cuốn Kỳ Môn Độn Giáp của tác giả Nguyễn Mạnh Bảo và cuốn Độn Giáp Lược Giải của Đỗ Quân. Hai cuốn này được coi như sách gối đầu của những người đam mê. Sau này có nhiều sách được xuất bản hơn nhưng đa số là xào nấu lại của hai cuốn nói trên, ví dụ như cuốn Văn hoá cổ trong hệ thức lượng thời gian Độn Giáp của Bùi Biên Hoà - một chuyên gia xào đi nấu lại, và cuốn Kỳ Môn Độn Giáp của Đàm Liên. Về sách dịch thì có bộ Kỳ Môn Kim Hàm Ngọc Kính nhưng có khá nhiều sai sót trong in ấn, điển hình là sự sai số cục khởi tiết khí. Nếu không nắm vững nguyên lý khởi cục theo tiết khí, mà chỉ nhớ một cách máy móc thì sẽ khó mà biết đúng sai. Theo nguyên lý Tiết khí sẽ khởi số cục theo cung, ví dụ như tiết Lập Xuân khởi từ cung Cấn 8, nên chắc chắn số cục của tiết Lập Xuân phải bắt đầu từ 8 ( 8-5-2 ) chứ không thể là 3-9-6...
Những đầu sách kể trên đều được trình bày rất rối - phức tạp và rất khó hiểu. Điều này khiến cho việc tự học Kỳ Môn theo sách xuất bản là không khả thi. Nếu may mắn hơn, nhất là những lứa đàn anh đi trước có cơ hội được học tập hoặc sưu tầm được các kiến thức về KMĐG của thầy Vũ Xuân Quang - một nhà giáo, nhà nghiên cứu hàng đầu Việt Nam.
Kỳ Môn Độn Giáp ngày nay có khá nhiều phân nhánh, điển hình là Tam Nguyên Kỳ Môn và Tam Hợp Kỳ Môn. Việc lập trận Kỳ Môn lại được chia thành Kỳ Môn Niên Gia - Kỳ Môn Nguyệt Gia - Kỳ Môn Nhật Gia và Kỳ Môn Thời Gia hay còn gọi là Thời khoá. Thời gia là phương pháp lập trận được thông dụng hơn cả bởi nó sử dụng tất cả 4 thông số năm tháng ngày giờ nên thích hợp dùng vào việc dự đoán thường ngày chi tiết. Về cách lập trận có 2 cách là Chuyển bàn và Phi bàn. Ngoài ra một trong những sự phức tạp nhất của Kỳ Môn là hiện tượng Siêu Thần ( Phù đầu chạy trước tiết khí ). Việc đặt nhuận hay không đặt nhuận đó là tiền đề cho sự ra đời của hai phương pháp là Tích bổ pháp ( hay còn gọi là Sài bổ ) và Trí nhuận pháp ( hay còn gọi là Chế nhuận ).
Chỉ đọc đến đây đã cảm thấy sự phức tạp của học thuật Kỳ Môn rồi.
Tại Việt Nam, ứng dụng mạnh nhất và gần như là duy nhất của Kỳ Môn chính là...xem bói. Hay nói một cách " khoa học " hơn chính là Dự báo một sự việc sẽ xảy ra theo chiều hướng nào, tốt xấu ra sao. Tuỳ thuộc vào trình độ người lập trận luận đoán có thể nhận định cát hung hoặc thắng thua thành bại. Ở mức độ cao hơn còn có thể dự báo được diễn biến của sự việc, phương hướng hành động và thời gian hoặc phương vị ứng nghiệm.
Trong Kỳ Môn luận đoán, như một số bài cũ đã đăng, việc xác định Dụng Thần, phân chủ khách là điều bắt buộc phải nắm được. Việc xác định Dụng thần sai sẽ dẫn đến luận đoán sai.
Kỳ môn cực kỳ thực tế trong việc xác định Dụng thần. Lấy ví dụ việc mua bán giao dịch thương mại : can ngày làm bản thân, can tháng làm đối thủ cạnh tranh, can giờ là tiền hoặc sản phẩm cần mua bán, Mậu là dòng vốn, Cảnh môn làm thị trường, Thương môn làm thu nợ, Khai môn làm cửa hàng, Tử môn làm đất đai sở hữu, Sinh môn làm nhà hoặc lợi nhuận. Khi đã xác định được các đối tượng, người thực hành Kỳ môn sẽ tìm hiểu các thông số nêu trên nằm tại cung nào và có các mối quan hệ sinh khắc tương hỗ nhau ra sao.
Hoặc như xem sinh sản, lấy cung Khôn là mẹ, lấy Tinh làm con, lấy Môn dương làm con trai, môn âm làm con gái, thiên bàn dương can làm trai, thiên bàn âm can là gái để đoán định việc thai sản trai gái...
Lấy một ví dụ thực tế về việc luận đoán theo Kỳ Môn Độn Giáp để thấy sự phong phú của nó. Kỳ Môn đòi hỏi người nghiên cứu nó cũng phải có một trí tưởng tượng và sự hình dung rất phong phú dựa trên Lý và Số :
Ông T có một cuộc giao dịch - đàm phán cực kỳ quan trọng. Ông ta cần phải đấu thầu một dự án rất quan trọng với một đối tác cao cấp. Ông đã đánh cuộc tất cả vào dự án này và nếu không thành công thì ông ta sẽ mất tất cả và phải đóng cửa công ty. Nghiêm trọng hơn khi đối thủ cạnh tranh của ông ta rất mạnh và đang làm mọi thứ để đánh ngã ông T và công ty của ông T.
Điều ông T muốn biết là liệu ông có cơ hội thắng thầu hay không, hay là cần phải làm gì đó để tăng cơ hội thắng.
Trận Kỳ Môn được thành lập : Âm độn 2 cục tiết Lập Thu - giờ Bính Ngọ, ngày Nhâm Tý, tháng Canh Thân.
Đầu tiên phải nói đến là Can ngày. Can ngày đại diện cho bản thân người hỏi - ông T. Nhâm thiên can gia lạc cung Tốn có được cách cục rất tốt đẹp đó là Thanh Long Hồi Thủ ( Vạn sự khởi đầu nan nhưng càng về sau càng thuận lợi ).
Cách Thanh Long Hồi Thủ khi Thiên can thiên bàn Mậu gặp thiên can địa bàn Bính, hoặc Tuần thủ gặp địa bàn Bính. Trong trường hợp này Tuần Thủ là Nhâm gặo Can địa bàn Bính chính là cách cục Thanh long hồi thủ ( trường hợp thông thường Nhâm - Bính là Thuỷ xà nhập hoả sẽ là xấu ). Trực phù và Bính kỳ đồng cung tại Tốn, rất tốt. Cảnh môn vốn thuộc hoả lại gia cung Tốn mộc, Cung sinh Môn là Nghĩa
Xét Can tháng, Can tháng đại diện cho đối thủ cạnh tranh trong việc đấu thầu này. Thiên can Canh nằm tại cung Cấn, lạc cung Không Vong lại gặp hung cách Bạch Hổ Can Cách ( Canh Tân ) cũng đồng thời là Lục Kỳ hình cục. Đây là cung Thương môn, Thương môn vốn thuộc Mộc lại tới cung Thổ, Cung khắc Môn là bị Chế, mất đi sức lực.
Tương quan giữa ông T và đối thủ trong trận Kỳ Môn này lợi thế hoàn toàn thuộc về ông T.
Theo Kỳ Môn Độn Giáp, trong trường hợp này Can giờ chính là việc Đấu thầu dự án. Can giờ Bính tới cung Khảm đạt cát cục Bính Kỳ nhận Trực Phù và quý cách Bính Kỳ nhập Sinh môn gặp Lục Hợp. Cung Can giờ sinh cung Can ngày và tương khắc với cung Can tháng, nên mọi thuận lợi và ưu ái sẽ thuộc về ông T.
Và dự đoán được đưa ra, ông T cần phải yên tâm và chuẩn bị đầy đủ hồ sơ tham dự thầu, tập trung vào Kiến thức và những công năng mà khách hàng cần ( Thiên phò tinh ).
Hai tuần sau ông T đã trúng gói thầu này, quả là hứng thú.
Theo (Tam nguyên huyền không thực nghiệm)

Thứ Hai, 11 tháng 9, 2017

Phép cầu con theo Kinh dịch



Phép cầu con theo Kinh dịch – Phong thủy
Ngày xưa cổ nhân coi việc sinh con là phúc đức, là vấn đề trọng yếu của cuộc sống, không có con nối dõi là không thể được. Sách có câu: “Bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại”. Ngày nay, trong xã hội hiện đại, nam nữ bình đẳng, con trai con gái đều quý. Tuy vậy, rất nhiều cặp vợ chồng vẫn muốn có nếp có tẻ cho vui cửa vui nhà. Vậy xin nêu ra hai phương pháp cầu tự cổ nhân thường dùng sau đây.
1. Phép cầu tự bằng thủy pháp trường sinh: 
          Cầu tự bằng Thủy pháp trường sinh nghĩa là: Tìm long nhập thủ để xác định long cục, biết long cục, biết nguồn nước chảy đễn, biết minh đường sẽ tìm được vị và hướng sao cho dòng nước chảy đến phải vào đúng cung trường sinh.
          Ví dụ: Như dần, giáp, mão, ất, tốn long thuộc mộc cục, phải tìm huyệt vị sao cho dòng nước chảy vào ở cung hợi, hoặc ngọ. (Bởi Hợi là trường sinh của dương mộc, ngọ là trường sinh của âm mộc).
          Muốn cầu con trai thì dùng các long thuộc khảm, cấn, chấn nhập thủ.
2. Cầu tự bằng phương pháp an táo phi cung:
          An táo phi cung là phương pháp đặt bếp (táo) ở hung phương (Ngũ quỷ, lục sát, họa hại, tuyệt mệnh) và xoay hướng bếp về hướng Phục vị. Chờ năm có Thiên ất quý nhân bay tới thì sẽ sinh con trai.
          Ví dụ: Người sinh năm 1970 có mệnh cung (cung phi) là Chấn, năm 1996 là sao tứ lục quản. Đặt tứ lục vào trung cung, phi thuận ngũ hoàng 5 ở càn, lục bạch 6 ở đoài… nhị hắc 2 ở cung chấn. Vậy nếu người này đặt bếp quay hướng chấn (Phục vị) từ trước, thì năm 1996 gặp Thiên ất quý nhân sẽ sinh con trai.
          Lưu ý: Những phương pháp này không áp dụng cho những người thất đức và có thiên hình đóng mệnh.
Quang Lê: Tức Lê Quang Đạo
Hội trưởng Hội Kinh dịch - Phong thủy Nghệ An: ĐT: 0983225079
Chuyên: Bốc dịch, xem số Tử vi, xem ngày và tư vấn Phong thủy
Ảnh: Một buổi tư vấn cho khách của hội Kinh dịch Nghệ An tại Thư viện tỉnh Nghệ An

Thứ Năm, 24 tháng 8, 2017

HẬU HẮC HỌC



HẬU HẮC HỌC – LÝ TÔN NGÔ
***********
Đúng như giới nhân sĩ Trung Hoa đã nhận xét: Hậu Hắc Học - Lý Tôn Ngô là một trong hai phát minh vĩ đại nhất của Trung Quốc.

Binh pháp - Tôn Tử là một cuốn sách cổ về mưu lược, đã rất nổi tiếng ở phương Tây, còn Hậu Hắc Học - Lý Tôn Ngô là một tác phẩm khá mới, hầu như chưa được biết đến ở ngoài Trung Quốc.

"Một trong những kết quả của việc đọc cuốn sách này sẽ là sự sụp đổ quan niệm truyền thống của bạn về sự tàn nhẫn. Nó gợi tư duy đáng kể trong khi cung cấp những ví dụ cụ thể.”
Đây là một cuốn sách phi thường, đầy những mẹo nhỏ thiết thực về cách biến nghịch cảnh thành thắng lợi. Bạn phải đọc cuốn này!”

George “Sparky”
***********

Chiều nay, một buổi chiều đặc biệt nóng bức khó chịu vô cùng. Tôi thấy buồn buồn chỉ muốn sinh sự với ai cho vui. Nhưng nhìn quanh không thấy một bóng ma nào cả, mà nếu có cũng không nạn nhân nào đáng chịu cái vạ vịt ấy. Tìm nguyên do, thì ra chỉ vì trời không mưa. Lỗi tại trời trách ai được! Tôi chỉ còn cách nằm lăn ra gạch bông lạnh, thấy cũng dễ chịu phần nào. Gạch mát, trời oi bức, gió hiu hiu, dễ ngủ lạ!
Trong lúc mơ màng, tôi thấy lòng lâng lâng, hồn phiêu phiêu. Hình như tâm tưởng muốn đi đâu là thấy mình ở ngay trong cảnh ấy.
Tôi thấy tôi bay lên không trung, viếng từng vì sao trên trời. Tôi đang bay lang thang, bỗng nhiên nghe ai gọi:
- Linh Bảo, Linh Bảo! Đi đâu phất phơ vậy?
Tôi quay lại nhìn, thấy một cụ già râu tóc bạc trắng, y phục theo lối cổ như người trong tranh Tàu, có vẻ tiên phong đạo cốt lắm. Tôi đang nghĩ ngợi, không biết đã quen cụ ở đâu và bao giờ, thì cụ tiếp:
- Ghé lại đây chơi đã. Đệ tử gặp sư phụ, còn phải đợi sư phụ mời chào đến mấy lần mới chịu dừng chân hay sao?
Tôi thấy ngài ngại, ngập ngừng hỏi:
- Thưa cụ, con có học gì với cụ hồi nào đấy ạ? Trí nhớ con kém quá, xin cụ tha lỗi.
Cụ vuốt râu cười:
- Ta là Lý Tống Ngô. Tác giả phát minh ra HẬU HẮC HỌC đây mà!
Tôi vội vàng vái chào, nói:
- Xin cụ tha lỗi. Con quả thực có đọc qua học thuyết của cụ, con rất bái phục nhưng vì chưa lãnh hội được hết những chỗ cao thâm, nên con không dám nhập môn bái sư.
Thấy tôi có vẻ định “rút lui có trật tự”, cụ cười:
- Thì hẵng ngồi chơi một lúc đã. Ta đến đây đánh cờ với Tây Vương Mẫu. Nay mai sẽ trở về động, để nghiên cứu thêm về các anh hùng hào kiệt cận kim. Bộ con tưởng dễ gặp được ta lắm sao?
Tôi rón rén đến gần, ngồi xuống một đám mây bên cạnh. Cụ gọi tiểu đồng đi lấy rượu Hoa Điêu mời tôi uống. Cụ hỏi:
- Sao? Từ hồi rời Trung Hoa đến giờ, chắc không có dịp uống rượu Hoa Điêu hâm nóng đấy nhỉ? Làm ăn có khá không?
- Dạ thưa cụ, cũng qua ngày nào hay ngày ấy
- Con dại lắm. Đã biết đến Hậu Hắc Học của ta, thì cứ gắng ngày đêm mài dũa, nghiên cứu. Lo gì không có ngày phát đạt.
- Bẩm cụ, con ngu quá, không lĩnh hội nổi. Có lẽ con không có tuệ căn.
- Ta biết hết. Con đọc đi đọc lại sách ta cả chục lần. Có nhiều chữ tự vị thiếu, không biết hỏi ai chạy lăng quăng như gà mắc đẻ, tội nghiệp quá, thôi để ta giảng sơ lại cho con hiểu .
Cụ tằng hắng lấy giọng nói:
- Con nghe cho rõ nhé. Hậu Hắc Học của ta phát minh hồi cuối đời nhà Thanh. Sau bao nhiêu năm nghiên cứu ta mới thấy rằng, thì ra Anh hùng Hào kiệt trong thiên hạ xưa nay sở dĩ làm được những chuyện kinh thiên động địa, là chỉ nhờ có hai điều kiện mà thôi: Ấy là MẶT DÀY và TIM ĐEN. Hậu là dày, Hắc là đen. Học là học thuyết. Vì thế nên ta mới gọi là HẬU HẮC HỌC.
- Dạ điểm này con hiểu.
- Kể những anh hùng trong truyện Tam Quốc, người thứ nhất là Tào Tháo. Sở trường của ông là tâm địa đen tối, nghĩa là độc ác. Tào Tháo giết cả nhà họ Lữ, giết Dương Tu, giết Đỗng Thừa, Phục Hoàn, giết Hoàng Hậu, Hoàng Tử mà không hề ghê tay. Đã thế, lại còn nói thẳng ra: “Chẳng thà ta phụ người, còn hơn để người phụ ta”. Tim đen như thế, thật đã đến tột độ. Tào Tháo xưng hùng được là lẽ cố nhiên.
- Kế đến nên công nhận Lưu Bị. Sở trường của ông ta hoàn toàn nhờ ở cái bộ mặt dày. Ông ta theo Tào Tháo, theo Lữ Bố, theo Lưu Biểu, theo Tôn Quyền, theo Viên Thiệu. Trốn bên Đông, nấp bên Tây, chầu chực ăn ở nhà người ta hết năm này qua tháng nọ, vẫn không cho là nhục. Đã thế, Lưu Bị lại còn rất dễ khóc. Mỗi khi gặp việc gì khó giải quyết, ông ta bèn khóc một hồi là chuyển bại thành thắng. Vì thế, tục ngữ có câu: “ Giang sơn của Lưu Bị nhờ khóc mà ra”. Đó cũng là một vị anh hùng có nhiều bản lĩnh. Lưu Bị sánh với Tào Tháo, có thể gọi là “ Song tuyệt”. Vì thế, lúc hai người đối ẩm luận anh hùng, một người tim đen nhất và một người mặt dày nhất, Tào Tháo đã nói:” Anh hùng trong thiên hạ, chỉ có tôi với ông”.

Ngoài ra, còn có Tôn Quyền. Tôn Quyền với Lưu Bị là đồng minh, hơn nữa lại bà con, thế mà bỗng nhiên ông đánh phá Kinh Châu, giết Quan Vũ. Tâm địa độc gần bằng Táo Tháo, chỉ tiếc không độc đến nơi đến chốn. Xong rồi, ông lại xin hòa với Thục để biểu lộ cái mặt dày. Tôn Quyền với Tào Tháo sánh vai xưng hùng, có thể nói là chẳng ai hơn ai kém. Ông lại còn hàng Tào Tháo, xin được xưng thần, tuyệt giao với Thục, toàn là những việc làm rất “ mặt dày” cả. Tuy tim ông không đen bằng Tào Tháo, mặt không dày bằng Lưu Bị, nhưng lại kiêm toàn. Vì thế, ông được liệt vào hạng anh hùng hào kiệt cũng đáng lắm.
Về sau, Tào Tháo, Lưu Bị, Tôn Quyền đều chết cả, có họ Tư Mã nổi lên. Ta có thể nói là Tư Mã đã lĩnh hội được cái Hậu Hắc chân truyền của Tào Tháo và Lưu Bị. Ông ta có thể ức hiếp cô nhi quả phụ, độc như Tào Tháo, có thể chịu được cái nhục “ khăn yếm”, mặt còn dày hơn Lưu Bị nhiều.
Lúc ta mới đọc sử, đến đoạn Tư Mã Ý chịu nhục, nhận khăn yếm, đã phải vỗ bàn mà khen rằng:” Thiên hạ tất sẽ về tay họ Tư Mã”.

Ta lại có thể lấy Sở Hán ra dẫn chứng:
Hạng Vũ là bậc anh hùng vũ dũng bậc nhất đương thời, thế mà phải chịu chết ở Đông Thành cho thiên hạ chê cười. Hàn Tín phê bình sự thất bại của ông là “ Phụ nhân chi nhân, thất phu chi dũng”. “Phụ nhân chi nhân” tức là lòng nhân của đàn bà, không thể nhẫn tâm. Căn bệnh ở chỗ tim không đen. “ Thất phu chi dũng” là cái dũng của kẻ thất phu, không chịu được tức. Căn bệnh ở chỗ mặt không dày.
Lúc Hạng Vũ và Lưu Bang cùng ngồi một chiếu, Hạng Vũ đã rút kiếm ra khỏi vỏ, chỉ cần hoa một lát lên cổ Lưu Bang là xong, thế mà ông ta bồi hồi không nỡ, để Lưu Bang thoát khỏi.
Trận Cai Hạ bị bại, nếu ông quyết định qua sông Ô Giang thì chưa chắc thắng bại về ai. Ông lại nói :” Hơn tám ngàn con em ở Giang Đông theo ta sang sông về miền Tây, chẳng còn một ai trở về, gia đình họ sẽ thương khóc con em của họ mà nghĩ đến ta, ta còn mặt mũi nào trông thấy ai! Ví dụ họ chẳng oán trách ta chăng nữa, ta cũng thẹn với lương tâm”. Hạng Vũ bại là phải lắm. Đã nói “ không mặt mũi nào nhìn ai” lại còn biết “ thẹn với lương tâm”, thì còn làm ăn gì được nữa!
Trong lúc ấy thì Lưu Bang, cha bị quân địch bắt, dọa đem làm thịt, Lưu Bang thản nhiên trả lời :” Nếu có luộc thì xin dành cho một bát nước xúp”. Con bị binh Sở đuổi bắt, ông nỡ đẩy con xuống xe giao cho địch. Về sau còn giết Hàn Tín, giết Bành Việt. “ Chim hết bẻ cung, thỏ hết giết chó”. Tư cách như thế thì Hạng Vũ “ Phụ nhân chi nhân, thất phu chi dũng” làm sao địch nổi!
Ngoài ra, còn nhiều nhân vật có thể dẫn chứng. Như Hàn Tín mặt dày chịu được nhục “chui háng và bát cơm phiếu mẫu”, nhưng tim không đen nên bị thất bại. Phạm Tăng tim thật đen, nhưng mặt không dày, không chịu được tức, đến nỗi làm mất giang sơn của Hạng Vũ lại lụy cả đến cái thân già của mình.
Vì thế, con phải biết rằng: Trời sinh ra ta, cho ta cái bộ mặt, nhưng bề dày, may sao nó lại lộn vào bên trong. Trời cho chúng ta một trái tim nhỏ bé, nhưng cũng may làm sao, sắc đen của nó cũng ở bên trong. Bề ngoài tuy thật tầm thường, nhưng khảo sát cho tinh vi, thấy nó có thể dày đến vô hạn, đen đến vô cùng.
Muốn luyện thành một con người “ Hậu Hắc ” cũng không khó, miễn phải kiên nhẫn và phải qua ba thời kỳ.
Thời kỳ thứ nhất, là “ dày mà cứng, đen mà sáng”. Người “ Hậu” đã tinh thông, mặc dầu thiên hạ công kích đến thế nào đi nữa, cũng không hề động lòng. Lưu Bị là hạng này, cả đến Tào Tháo cũng đành phải chịu thua cái mặt dày của ông ta.
Người tinh thông “ Hắc” học, tim như một tấm “ lắc” đen bóng loáng, càng đen người ta càng đổ xô vào phục vụ. Tào Tháo là hạng người này. Ông đã nổi tiếng ác độc, thế mà danh lưu Trung nguyên đều một lòng quy phục. Đúng là tim càng đen thì chiêu bài càng sáng.
Đến thời kỳ thứ hai, tuy đã khá lắm rồi, nhưng vẫn chưa thành công vì còn để lộ hình tích. Cũng như Lưu Bị, Tào Tháo, mới nhìn qua, người ta xét đoán được ngay họ thuộc vào loại nào.
Thời kỳ thứ ba, là “ dày mà vô hình, đen mà vô sắc”. Người đã “dày vô tận, đen vô cùng” thì hậu thế vẫn có thể tưởng là không dày, không đen. Thế mới là đi đến tuyệt đích.
Nho-gia giảng Trung-dung, giảng đến “ vô thanh, vô xú ” mới hết. Phật giáo cũng phải đạt đến “ bồ đề vô thụ, minh kính vô đài ” mới chứng quả. Như thế, Hậu Hắc Học là một học thuyết bí truyền từ thiên cổ, cố nhiên phải đạt đến chỗ “ vô hình, vô sắc” mới hoàn toàn.
- Dạ, như thế là thành công sao?
- Chưa hết đâu con ạ. Còn phép cầu quan nữa!
- Xin cụ dạy nốt cho con hiểu.
- Nếu muốn làm quan mà không thuộc lòng “ Bí quyết cầu quan”; cũng như làm được quan rồi mà không biết phép “ Duy trì chức quan”, thì cũng vô ích.

Người cầu quan, trước hết phải biết rõ sáu chữ:
Rảnh Rang, Luồn cúi, Khoe khoang, Nịnh hót, Dọa nạt, Quà Biếu .

1. Khủng Bố . Tức là dọa nạt. Chữ này nghĩa lý quá cao thâm. Cần phải nhấn mạnh: quan là một nghề rất đặc biệt, đâu có thể tùy tiện muốn cho ai cũng được. Vì thế, có người đã thực hành chữ “Nịnh Hót” chu đáo đến một trăm phần trăm mà vẫn không được làm quan. Đó là vì thiếu chữ “Khủng Bố”.

Làm người, ai cũng có nhược điểm và lỗi lầm. Khi tìm được nhược điểm của quan trên, ngắm thật đúng, khẽ điểm một huyệt là quan hoảng hốt sợ hãi, lập tức tìm cho ta một chức vụ ngay. Nhưng người cầu quan phải hết sức khéo léo khi dùng hai chữ “Nịnh Hót” và “ Khủng Bố” kết hợp lại . Nghĩa là, trong nịnh hót có ý ngầm dọa nạt.

Trong mắt mọi người, thấy mình nói chuyện với quan thầy, câu nào cũng toàn là nịnh hót, tâng bốc, kỳ thực bên trong toàn là móc trái, đá ngầm, chỉ một mình quan thầy hiểu. Quan nghe đến đâu, mồ hôi toát ra như tắm đến đấy. Người giỏi nịnh hót, nói gì, người bên ngoài nghe câu nào cũng thấy toàn là chỉ trích các bề trên, nhưng các “ bề trên” nghe thật vui lòng, nở nang từng khúc ruột. Nhưng điều cần biết là dọa phải có giới hạn, nếu đi lỡ trớn, để quan thầy thẹn quá, nổi xùng lên thì cũng hỏng bét cả.

- Quà Biếu là dâng lễ vật. Lễ lớn là tặng biếu tiền bạc, vàng, kim cương, ngân phiếu. Lễ nhỏ là món ngon vật lạ, đồ cổ xưa, mời nhậu nhẹt v. v. . . Người được tặng có khi là quan trên, có khi là kẻ tuy không làm chức gì hết nhưng có cách giúp đỡ mình được.

Sáu chữ này, nếu theo thực đúng, thì sẽ đem đến kết quả cụ thể là, một hôm, quan trên bỗng chợt nhớ ra lẩm bẩm một mình:

- Ông Z muốn làm quan, đã xin từ lâu (Rảnh Rang). Mình với ông ta có đôi chút liên lạc (Luồn Cúi ) Ông ấy cũng là kẻ có tài (Khoe khoang). Ông ta đối với mình rất tốt (Nịnh Hót). Nhưng hắn cũng không phải tay vừa, nếu không cho hắn một việc làm, hắn sẽ làm bậy, có hại đến mình (Khủng Bố).
Nghĩ đến đây, nhìn thấy những lễ vật quà cáp chất đầy quanh mình (Quà Biếu), ông không còn biết phải làm gì hơn là ký giấy bổ “đương sự” đi làm quan.
- Dạ thế là thành công rồi, phải không cụ?
- Chưa con ạ. Được chức quan rồi, còn phải biết giữ chức ấy nữa chứ.
- Thưa cụ, cho con nghe nốt.

- Phép giữ chức quan cũng có sáu chữ: *
- *Trống Rỗng, Cung Kính, Hách Dịch, Hiểm Ác, Điếc Đui. Hối lộ

1) Trống Rỗng. Trống rỗng trong giấy tờ, báo cáo, diễn văn, tất cả. Điểm này ta không cần nói rõ phải trống rỗng như thế nào, con chỉ cần chú ý xem các diễn văn,thông điệp, báo cáo của các cơ quan, hội đoàn, báo chí thì hiểu rõ. Nghĩa thứ hai, là làm việc không nhất định một hướng nào. Có khi biểu lộ thật cương quyết, độc đoán, nhưng bên trong vẫn có đường ngầm, để nếu cần có thể thối lui rất dễ dàng, nhất là không bị liên lụy bao giờ.
.
2) Cung Kính nghĩa là nịnh hót. Nịnh có hai thứ, trực tiếp và gián tiếp. Trực tiếp là nịnh ngay quan trên. Gián tiếp là nịnh thân thích, bạn bè của quan. Từ vợ lớn , nàng hầu, nhân tình, con cháu và đến cả mèo, chó của quan nữa.


3) Hách Dịch trái nghĩa với chữ Cung Kính. Chữ này để đối với thuộc hạ hay dân chúng. Một là tỏ ra bằng giáng điệu oai nghiêm hách dịch. Hai là trong ngôn ngữ, tỏ ra ta đây tài giỏi hơn người. Chữ Cung Kính không nhất định đối với quan trên, vì có khi quan trên không trực tiếp nắm quyền sinh sát mình, thì không sợ. Cũng giống như thế, chữ Hách Dịch không nhất định đối với người dưới, vì nếu người dưới mà có quyền hay ảnh hưởng đến chức phận của mình, thì cũng phải đổi ra cái bộ mặt cung kính đối với họ. Như thế, nghĩa là phải tùy hoàn cảnh, sử dụng cho khéo léo.


4) Hiểm Ác. Ta chỉ cần đạt đến mục đích, mặc kẻ khác táng gia bại sản, bán vợ đợ con. Nhưng, điều cần chú ý nhất, là bao giờ cũng phải phủ lên trên bộ mặt tàn ác một lớp vỏ nhân nghĩa đạo đức mới được việc.


5) Điếc “ Chúng cười mặc chúng, quan ta, ta cứ làm”. Trong chữ Điếc này, lại còn bao gồm cả chữ Đui . Vì có khi thiên hạ chửi bằng báo chí chứ không chỉ chửi bằng miệng. Trong trường hợp này, ta giả Đui nhắm mắt không thèm xem.

6) Hối Lộ tức là ăn tiền. Mười một chữ trước đều sắp đặt để dọn đường cho chữ này: đối chiếu với chữ Biếu Xén. Đã có dâng lên thì phải có thu vào. Nhưng cũng cần phải biết món nào nuốt được, món nào cần nhả thì phải nhả, để khỏi mắc nghẹn.

- Dạ con hiểu rồi ạ.

- Đó là đại cương. Ai muốn học, phải tự mình tìm hiểu, nghiên cứu thêm cho tinh thông.

Tôi hỏi:
- Dạ thế còn đường lối làm việc? Con xin cụ chỉ giáo nhân thể.
-
- Có hai cách làm việc. Một là “ PHÉP CẮT TÊN”. Hai là “PHÉP VÁ NỒI”.
-
- Tên nghe lạ quá.
-
- Đúng lắm con ạ. Để ta kể cho con nghe: ngày xưa có một người bị trúng một mũi tên. Hắn ta đến nhà một vị lương y ngoại khoa xin chữa trị . Oâng ta lấy dao cắt mũi tên bên ngoài, rồi tính tiền khám bệnh và chữa bệnh. Bệnh nhân ngạc nhiên hỏi:
- Ơ kìa, ông đã chữa lành đâu mà đòi tiền? Mũi tên vẫn còn ở trong người tôi.
Lương y trả lời:
- Tôi là thầy ngoại khoa. Tôi chỉ chữa bệnh ngoài da. Còn bên trong không chữa được, bây giờ anh hãy đi tìm một thầy nội khoa mà xin chữa
- Đó là chuyện xưa, còn ngày nay thì cũng nhan nhản cách làm việc như thế. Ví dụ, Trong một công văn nọ được viết:” Theo như lời của ngài thì tên X quả thực có tội, chúng tôi sẽ thông báo cho nha hữu quyền điều tra để nghiêm trị”. “Quả thực có tội” là “ cắt tên”. “ Nha hữu quyền” tức là thầy nội khoa. Hoặc là “ sẽ chuyển lên thượng cấp định liệu”. “ Thượng cấp” đây là “ thầy nội khoa”. Và ví dụ, nếu có người nhờ ta làm việc gì, ta nói: “ Tôi rất tán thành ý kiến của anh, nhưng còn phải thương lượng với ông Z”. “ Rất tán thành” là “ cắt tên”. “Ông Z” là thầy nội khoa.
Có những trường hợp bệnh nhân chỉ được cắt tên mà không được mách bảo tìm thầy nội khoa, và cũng có trường hợp chỉ bảo tìm thầy nội khoa, chứ tên cũng không thèm cắt. Chính trị càng cao thì càng biến hóa huyền bí vô cùng vô tận.

Cách thứ hai là HÀN NỒI.
- Có một người mời bác thợ hàn nồi đến nhà để hàn một cái nồi bị nứt. Bác thợ hàn vừa cạo nồi vừa bảo:
- Xin ông chủ cho tôi ít lửa để tôi nhen bếp hàn.
Trong khi chủ nhà quay lưng đi lấy lửa, bác thợ hàn khẽ đập nhẹ vào đáy nồi cho nứt nhiều thêm. Đợi chủ nhà đến nơi, bác nói:
- Ông chủ xem đây. Nồi của ông nứt dài thế này, nhưng vì bị bồ hóng bám đầy nên không trông thấy. Bây giờ tôi cạo sạch, mới lộ ra rõ ràng.
Chủ nhà kinh ngạc nói:
- Thật may quá, hôm nay may gặp được bác hàn giúp cho. Nếu để
ít lâu nữa, chắc là sẽ phải bỏ cái nồi, không còn dùng được nữa.
Nồi hàn xong, cả bác thợ hàn lẫn chủ nhà đều vui vẻ mãn nguyện chia tay.

Cổ kim, đông tây, hiện đại cũng như trong lịch sử, nhan nhản đầy những chuyện Cắt tên và Vá nồi như thế. Hành động của cá nhân cũng như biến chuyển của quốc gia, suy luận một lúc là thấy rõ ngay thuộc về loại nào. Cũng có khi bác thợ hàn lỡ tay, đập vỡ nồi của người ta, rồi vá không xong!
Trịnh Trang Công dung túng cho Công Thúc Đoạn làm thực nhiều điều bất nghĩa, rồi mới cứ binh chinh phạt. Đó là phép vá nồi. Trong lịch sử, nếu ta lưu tâm nhận xét một chút thì nhận thấy rõ ngay.
Hai phép mầu nhiệm trên đây là một công lệ để làm việc. Vô luận cổ kim, đông tây, xưa nay vẫn rất thành công.
Quản Trọng là một đại chính trị gia Trung Quốc. Ông làm việc, không bao giờ ra khỏi hai luật này. Rợ Địch đánh nước Vệ, Tề quốc án binh bất động. Đợi đến lúc Địch diệt được Vệ rồi, ông mới làm nghĩa cử, hưng binh vấn tội Địch để cứu Vệ. Đó là phép vá nồi. Quản Trọng không trách Sở tiếm Vương hiệu, chỉ trách Sở không triều cống. Đó là phép cắt tên. Bởi vì lúc bấy giờ thực lực của Sở hơn Tề gấp bội, Quản Trọng xui Tề Vương đem binh đánh Sở, có thể nói là đập vỡ nồi để hàn. Đến khi thấy thái độ phản kháng cứng rắn của Sở, bèn cắt tên, bỏ qua chuyện cho xong. Quản Trọng có thể đập thủng nồi, xong rồi vá lại, vì thế nên được gọi là kẻ anh tài trong thiên hạ.

Đời Minh, Lý Vũ Thần vây khổn Lưu Khấu, sau lại thả ra. Đó là định dùng phép đập nồi. Chẳng ngờ, Lưu Khấu mạnh quá, trị không nổi, nên bị nước mất, vua chết.
- Bẩm cụ, thế có ai dám làm trái công lệ này không?
- Có chứ. Nhưng làm trái thì phải thất bại. Vì trong khi ai cũng chỉ theo phép cắt tên, và mình chỉ là thầy ngoại khoa, lại muốn nhổ cả đầu mũi tên ra, thì thất bại là lẽ cố nhiên. Chẳng hạn, Nhạc Phi muốn khôi phục Trung nguyên, rước Nhị Đế về. Nhưng khi ông vua đương kim có ý định chỉ nhổ đầu tên, thì Nhạc Phi bị hại ngay.
Đời Tấn, Vương Đạo làm thừa tướng, có giặc nổi loạn nhưng ông không cho binh lính tiêu diệt loạn quân, mặc dầu trong khi ấy ông ta vẫn tỏ ra tận trung phò tá ngai vàng. Ấy là ông ta nuôi giặc để cho nhà Vua cảm thấy ngai vàng lung lay, cần phải có ông phò tá. Đó là giữ nguyên cả mũi tên không cắt, để chờ thầy nội khoa. Cổ kim, đông tây, ví dụ rất nhiều, ta không thể nào nói hết được. Nếu con chịu khó suy luận thì thấy ngay.
Thấy tôi cứ ngồi ngẩn ra không trả lời, cụ dịu dàng hỏi:
- Con còn điều gì thắc mắc nữa không?
Tôi ngập ngừng:

- Dạ có. Con nghĩ rằng, nếu theo như lời cụ dạy, thì chả hóa ra đời đen tối lắm sao? Và những kẻ nào thành công trên đời, vô tình hay hữu ý, cũng đều là môn đồ của cụ cả?
- Con nói thế, tỏ ra con chỉ biết một mà không biết hai, và “ Hậu Hắc Học” của ta, con cũng chưa đọc kỹ. Thôi, tiện đây ta cũng nói nốt cho con nghe

Thế giới lúc nào cũng tiến hóa. Hậu Hắc Học cũng phân ra làm ba thời kỳ. Thời kỳ thượng cổ còn lộn xộn, không phân biệt “ đen” hay “ dày” gì cả, tất cả mọi người đều giản dị thật thà. Trong thời ấy, học thuyết của Khổng Mạnh đề xướng ra, rất thích hợp. Đó là thời kỳ thứ nhất.
Về sau, trí thức dân chúng càng ngày càng mở mang, trong đầu óc người ta, trăm mưu nghìn kế, biến hóa vô cùng. “ Hắc” như Tào Tháo, “ Hậu” như Lưu Bị, bấy giờ mới xuất hiện ra. Lúc ấy, dù Khổng Tử có sống lại, cũng vô ích mà thôi. Đó là thời kỳ thứ hai.
Hiện tại đã đến thời kỳ thứ ba. Bọn người “ Hắc” như Tào Tháo, “ Hậu” như Lưu Bị, sinh ra càng ngày càng nhiều. Không những thế, nghệ thuật tinh vi của bọn họ, nếu Tào, Lưu trông thấy, cũng phải kinh hoảng. Cũng may là người thành công ít, kẻ thất bại nhiều. Và dù có thành công một thời, kết quả cũng vẫn đi đến thất bại.

Như thế là tại làm sao? Ta đã nói rồi. Vì đây là thời kỳ thứ ba, thời kỳ “ Hậu Hắc” toàn thịnh của Tào, Lưu nay đã trở thành quá khứ. Người muốn THỰC thành công bây giờ, ngoài mưu trí thông minh xuất chúng, còn phải kiêm cái đạo đức giống như ở thời kỳ thứ nhất vậy. Kỳ thực, cũng không phải là trở lại thời kỳ thứ nhất hẳn, nhưng là một cái vòng tròn tiến hóa. Nghĩa là phải có cái tâm của Khổng Mạnh để thực hành cái thuật của Tào, Lưu, mới thích hợp với thời đại.
Vật gì hiếm có là vật quí. Thời thượng cổ, dân trí còn chất phác, không ai “Hậu” mà cũng chẳng có ai “Hắc” . Bỗng nhiên sinh ra một người đủ cả “Hậu” lẫn “Hắc”, tất nhiên người ấy khống chế thiên hạ, giành phần thắng lợi về mình. Mọi người trông thấy thế, bèn bắt chước theo. Ai cũng thi nhau “ Hậu Hắc” không ai trị nổi ai.
Thế rồi bỗng dưng lại nổi lên một người, không rõ là “Hậu” hay “ Hắc”. Người này cố nhiên sẽ nổi bật hẳn lên về đức độ và tài năng, như thế cố nhiên sẽ phải được thiên hạ tín nhiệm, cảm phục, phần thắng lợi nắm chắc trong tay, không còn ai tranh được.
Ví dụ, cũng như trong thương trường, lúc ban đầu tất cả các gian hàng đều bán một thứ hàng tốt, giá rẻ cả, bỗng nhiên có một người bán lẫn hàng giả và xấu vào, người này bán đầu tiên, nên lừa thiên hạ được một số tiền rất lớn. Mọi người thấy thế đua nhau bắt chước, đến nỗi cả thị trường dần dần đều bán toàn hàng giả, xấu, làm cho khách hàng nghi ngờ, chán nản vô cùng. Thế rồi, bỗng có một nơi bán hàng tốt thật và giá rẻ thật. Khi thiên hạ phát giác sự thật thà của cửa tiệm này, tất cả mọi người đều đổ xô đến mua. Công ty này nhất định sẽ phát đạt và giàu to, vì đã được sự tín nhiệm của khách hàng.

Như thế là trong thương trường, cũng chia làm ba thời kỳ: thời kỳ thứ nhất là hàng tốt và đẹp mắt, thời kỳ thứ hai hàng chỉ đẹp mà không tốt, thời kỳ thứ ba, trở lại bên ngoài trông đẹp mà bên trong chất hàng cũng tốt nữa
.
Hậu Hắc Học của ta cũng biến hóa như thế. Môn đồ ta ai không có trí suy xét, không biết biến hóa theo thời kỳ, chỉ còn biết oán trách sinh không đúng thời chứ đừng oán trách ta giảng dạy không chu đáo. Con đã hiểu chưa?
Tôi thưa:
- Bẩm cụ, nhưng con là phận nghèo hèn, có lĩnh hội được Chính truyền của cụ cũng chẳng ích lợi gì. Con không thích và cũng không thể làm “ anh hùng hào kiệt” như cụ dạy. Con chỉ ao ước quê hương được thanh bình, tâm hồn mọi người đều yên tỉnh và . . . .

Cụ có vẻ giận, cắt lời tôi:

- Thật ta tiếc công giảng dạy con. Sang hay hèn, quân tử hay tiểu nhân, nam hay nữ gì cũng thế cả. Học thuyết của ta thiên biến vạn hóa, ai lĩnh hội được thì thành công tuyệt vời. Ta muốn giảng phép thành “Anh hùng Hào kiệt”, mà con chỉ nghĩ đến hai chữ bình an, rõ thật người đầu não thấp kém có khác! Thôi con về đi. Khi nào “ tĩnh ngộ” rồi, lên sao Bắc Đẫu tìm ta, ta sẽ giảng Hậu Hắc Kinh cho mà nghe.
- Cụ bảo tôi nhắm mắt lại. Cụ thổi một hơi nhè nhẹ bên mang tai làm tôi thấy lạnh toát cả người. Giật mình tỉnh dậy, thì ra một giấc mơ dài.

Đêm đã sang canh .
Linh Bảo _ Saigon 1958