Thứ Sáu, ngày 22 tháng 5 năm 2015

CÙNG NHAU ĐỐ KIỀU



Các bạn thân mến! Trước đây tôi đã có bài Bói Kiều nét văn hóa tâm linh, tuy nhiên trong việc khai thác các giá trị của Truyện Kiều thì việc Đố Kiều cũng làm cho bao thế hệ người Việt say sưa bàn luận và thưởng thức.
Trong lịch sử văn học Việt Nam, không có một tác phẩm nào có tính phổ cập rộng lớn như "Truyện Kiều" của Đại thi hào Nguyễn Du. Không thể thống kê hết số người thuộc toàn bộ 3254 câu, và khó tìm được một người dân Việt Nam mà không thuộc một vài đoạn, một vài câu Kiều. Thế kỷ này qua thế kỷ khác, dân ta mê rồi nghĩ ra các cách thưởng thức "Truyện Kiều". Nếu như Vịnh Kiều, Bình Kiều là công việc của giới nhà Nho, trí thức, thì Ngâm Kiều, Lẩy Kiều, Bói Kiều... và đặc biệt là Đố Kiều được quần chúng bình dân tham gia rộng rãi.
Đố Kiều là một trò chơi văn nghệ dân gian dưới hình thức đối đáp, nghĩa là một bên hỏi, một bên trả lời, mỗi bên thường là một nhóm, một đội...Có điều đặc biệt là khi chơi trò Đố Kiều, cả người ra đố và giải đố thường dùng thơ, chủ yếu là thể lục bát, để chuyển tải ý của mình. Trò chơi Đố Kiều xẩy ra nhiều nơi, dưới nhiều hình thức khác nhau, nhưng ở vùng quê Nghệ Tĩnh trước đây chủ yếu diễn ra trong các cuộc hát Phường vải. Hát Phường vải là hình thức hát đối đáp gồm hai nhóm người, một bên là các cô gái địa phương ngồi quay xa dệt vải, một bên là các chàng trai tứ chiếng tụ tập lại. Nội dung hát đố, giải trong hát Phường vải gồm nhiều đề tài khác nhau, nhưng Đố Kiều luôn luôn chiếm một vị trí quan trọng. Điều khó của người giải đố là sau khi nghe đố xong, chỉ một thời gian thật ngắn phải có lời đáp. Bởi vậy trò chơi này đòi hỏi những người tham gia không những thuộc, hiểu "Truyện Kiều", mà phải có phản ứng nhanh trong việc diễn tả ý của mình dưới thể thơ lục bát, đồng thời cần có giọng ngâm, giọng hát hay. Sự thật khó tìm được một người toàn tài như vậy, mà trong các bên dự thi Đố Kiều phải phân công nhau, để cho từng người thể hiện sở trường của mình. Thông thường trong thành viên mỗi đội, ngoài số nam thanh nữ tú ra, mỗi bên còn mời một vài người không phân biệt tuổi tác, thường là cụ đồ Nho hoặc cậu tú, cậu cử...thông thuộc "Truyện Kiều", gánh vác nhiệm vụ mách lời, các chàng trai, cô gái tốt giọng có khi chỉ là người "phát ngôn"!
Nội dung đầu tiên các câu hát Đố Kiều quan tâm là thử thách sự thông thuộc, hiểu biết của người giải đố về "Truyện Kiều". Loại câu đó ấy thường ngắn gọn buộc người giải đố phải tìm một câu, một đoạn nào đó có ý theo yêu cầu của người đố. Có khi bản thân câu đố không khó nhưng vì phải trả lời ngay nên đến cả những nhà "Kiều học" cũng phải lúng túng. Sau đây là một số ví dụ.
Đố: "Truyện Kiều" anh đã thuộc lòng
Chỗ nào tơ liễu mà không buông mành?
Ở câu này, người ra đố đi từ nhận xét rằng, không ai mê Truyện Kiều mà không thuộc câu "Lơ thơ tơ liễu buông mành/ Con oanh học nói trên cành mỉa mai", nên hễ nhắc hai chữ tơ liễu là thế nào buông mành cũng hiện lên. Vả lại, trong "Truyện Kiều" có rất nhiều từ liễu, từ tơ nhưng tơ liễu thì chỉ xuất hiện ba lần, "tơ liễu mà không buông mành" chỉ có hai lời giải:
Dưới cầu nước chảy trong veo
Trên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha!
Và: Chừng xuân tơ liễu còn xanh
Nghĩ mình chưa thoát khỏi vành ái ân.
Trong trò chơi đố Kiều, loại câu đố mà lời giải là một câu Kiều là rất phổ biến:
Đố: "Truyện Kiều" anh đã thuộc làu
Đố anh kể được một câu năm người?
Giải: "Này chồng, này mẹ, này cha
Này là em ruột, này là em dâu"!
Đố: "Truyện Kiều" anh đã thuộc lòng
Đố anh đọc được một dòng toàn Nho?
Giải: "Hồ công quyết kế thừa cơ
Lễ tiên, binh hậu khắc cờ tập công"!...
Nhưng có nhiều câu đố đòi hỏi lời giải không phải là một câu Kiều, mà là sự tổng hợp của những câu, những đoạn khác nhau. Cái khó của lời giải loại này là không chỉ thống kê các câu Kiều, mà phải xử lý vần để lời giải là một đoạn thơ:
Đố: Nàng Kiều lưu lạc gian truân
Với người tình, đã mấy lần chia tay?
Giải:
"Dùng dằng một bước một xa"
Chia tay Kim Trọng châu sa đẫm ngày
"Chén đưa nhớ buổi hôm nay"
Chia tay chàng Thúc hẹn ngày năm sau
"Đành rằng chờ đó ít lâu"
Chia tay Từ Hải, lòng đau nhớ nhà
Chiếc thân bèo nổi, sóng sa
Ba lần ly biệt xót xa, tội tình!
Cũng có khi người ra đố không chỉ dùng một vài lời ngắn gọn, mà dùng nhiều câu dắt dẫn, đưa đẩy để giới thiệu mình hoặc để tỏ tình, trước khi vào nội dung cần đố:
Nữ:
"Trăm năm tính cuộc vuông tròn
Phải dò cho đến ngọn nguồn lạch sông"
Phải đâu mèo mả, gà đồng
Thuyền quyên muốn hỏi anh hùng trước sau:
"Ba quân chỉ ngọn cờ đào
Đạo ra Vô Tích, đạo vào Lâm Tri"
Thế còn một đạo làm chi?
Trai anh hùng giải được, gái nữ nhi chịu tài.
Nam:
Vì ai chiếc lá lìa cành
Khi săn như chỉ, khi mành như tơ
Trót công rày đợi mai chờ
"Phải người trăng gió vật vờ hay sao"
"Ba quân chỉ ngọn cờ đào
Đạo ra Vô Tích, đạo vào Lâm Tri"
Ắt còn một đạo binh uy
Ở nhà giữ chốn biên thuỳ cho nghiêm
Anh hùng tỏ với thuyền quyên
"Chữ tình càng mặn, chữ duyên càng nồng"!
Trong loại câu đố này, người ra đố và giải đố dùng những câu Kiều nguyên vẹn hoặc lẩy Kiều để chuyển tải ý mình, và hình như đây không chỉ là đố giải Kiều mà là còn là đối đáp tỏ tình. Một đặc điểm cũng cần lưu ý, là cả người đố và giải đều đùa với ngôn ngữ trong Truyện Kiều, cụ thể ở đây là chữ Ba quân. Họ đều thừa hiểu rằng ba quân là tiếng chỉ quân đội nói chung, thế mà giả vờ như không hiểu để mà đố, mà giải! Chúng ta biết rằng, trong các câu đố về Truyện Kiều, những câu đố vui đùa theo kiểu chơi chữ chiếm một tỷ lệ rất lớn. Loại câu đố này chỉ mượn "Truyện Kiều" để mang lại tiếng cười sảng khoái như nghe chuyện tiếu lâm. Đó là "Truyện Kiều" của những người thích đùa"!
Hỏi: Tiện đây hỏi một hai điều
Thiếp tôi chưa rõ nàng Kiều ai sinh?
Đáp:
"Hổ sinh ra phận thơ đào
Công cha nghĩa mẹ kiếp nào trả xong"
Khái ( hổ) sinh Kiều, thật lạ lùng
Trả lời như rứa thoả lòng em chưa?
Hỏi:
Chập chờn cơn tỉnh cơn mê
Nghe đâu Kiều có làm nghề tráng gương?
Đáp:
"Mười lăm năm, bấy nhiêu lần
Làm gương cho khách hồng quần thử soi!"
Hỏi: Nổi danh tài sắc đủ điều
Tại sao lại bảo nàng Kiều sứt răng?
Đáp:
"Hở môi ra những thẹn thùng"
Sứt răng nàng sợ chúng trông, bạn cười!
Hỏi:
"Song thu đã khép cánh ngoài"
Nàng Kiều chung chạ có thai bao giờ?
Đáp:
"Lỡ từ lạc bước bước ra"
"Thất kinh nàng chửa biết là làm sao!"
Hỏi:
Đến đây hỏi khách cựu giao
Chàng Kim đau bụng thế nào chàng ơi?
Đáp:
"Khi tựa gối, khi cúi đầu
Khi vò chín khúc, khi chau đôi mày!"
Hỏi:
Sinh ra thời buổi chiến chinh
Thuý Kiều có lấy thương binh không chàng?
Đáp:
Một tay trời bể ngang tàng
Chồng Kiều, Từ Hải rõ ràng thương binh!
Hỏi:
Thời Kiều đã có ngân hàng
Em đây chưa tỏ nhờ chàng chỉ cho?
Đáp:
"Nhà băng đưa mối rước vào..."
Tiền nong thanh toán việc nào chẳng xong!
Còn một nội dung đố Kiều khác nữa, là người đố dùng những câu Kiều hoặc lẩy Kiều để đố xem ý câu đó nói gì. Với nội dung này, người giải phải có óc suy xét, phán đoán mới giải được. Và lạ thay, có nhiều câu có lời giải có vẻ thật chính xác! Và ở loại này, người ta thường trả lời trực diện mà ít dùng thơ.
Đố:
"Trên vì nước, dưới vì nhà"
"Lòng này ai tỏ cho ta hỡi lòng".
(Là cái gì?)
Giải: Cái máng nước (nằm giữa hai mái nhà)
Đố: " Vầng trăng vằng vặc giữa trời
Đinh ninh hai miệng một lời song song".
(Là cái gì?)
Giải: Sáo diều đêm trăng!
Đố: "Trăm năm tính cuộc vuông tròn
Phải dò cho đến ngọn nguồn lạch sông?"
(Là nghề gì?)
Giải: Người đan bồ! (khi đan bồ, phải đan đáy hình vuông trước, rồi sau đó mới đan tròn phía trên và vật liệu đan bồ là nưá phải lầy từ rừng về).
Đố Kiều là một trò chơi tao nhã có từ lâu đời, nhưng tiếc rằng hơn nửa thế kỷ qua hầu như ít xuất hiện trong đời sống tinh thần của công chúng. Đó là một thiếu sót trong công việc bảo tồn vốn cổ của ngành văn hoá.Vừa qua Đài Tiếng nói Việt Nam có một chương trình khá hoành tráng về việc đưa "Truyện Kiều" đến với thính giả bằng cách giới thiệu toàn bộ "Truyện Kiều", từ đầu đến cuối qua giọng ngâm của các nghệ sĩ nổi tiếng nhất, đồng thời trong mỗi đoạn có sự phân tích, giảng giải của các chuyện gia về "Truyện Kiều". Cũng trong chương trình này, Đài còn tổ chức mỗi tháng một câu Đố Kiều với thính giả rộng rãi trong cả nước. Việc làm này của Đài Tiếng nói Việt Nam không những đem lại hứng thú cho người nghe mà còn làm sống lại một trò chơi văn hoá có nguy cơ mai một.
Vương Trọng

BÓI KIỀU ĐÂU CHỈ NGÀY XƯA
Bói Kiều là một hiện tượng sinh hoạt "văn hoá - tâm linh" vô cùng kỳ lạ ở nước ta, và tin chắc rằng trên thế giới khó tìm được một tác phẩm văn học nào có được hiện tượng đó, khi người ta dùng từng câu, từng dòng để đoán về tương lai, vận mệnh của con người. Người phản đối thì coi đó là chuyện mê tín, người ủng hộ thì coi là chuyện tâm linh, mà đã là tâm linh thì không thể giải thích được bằng kiến thức khoa học thông thường. Mê tín, hay tâm linh? Điều đó tôi không có ý định phân giải trong bài viết ngắn ngủi này, mà chỉ muốn chuyển tới bạn đọc một số mẩu chuyện bói Kiều đã thu gom được.
Những người thích bói Kiều thường nhắc tới sự kỳ diệu của tác phẩm này, có những điều không thể giải thích nổi. Ví như câu thứ 1954 trong "Truyện Kiều" là " Cắn răng bẻ một chữ đồng làm hai", ứng với năm 1954, hiệp định Giơ-ne-vơ giữa ta và Pháp ký kết, nước ta tạm thời phải chia đôi! Mặc dù câu thơ trên ở trong Truyện Kiều, là lời của Thúc Sinh nói rằng mình đành phải đoạn tuyệt Thuý Kiều trong nỗi đau xót, nhưng nếu viết về nước ta đành phải chịu cảnh chia đôi vào năm 1954, thì khó có một câu thơ nào hay hơn "Cắn răng bẻ một chữ đồng làm hai".
Từ yêu đến tin rồi tín ngưỡng Truyện Kiều như tín ngưỡng một loại tôn giáo, nhiều người tìm thấy ở tác phẩm này niềm an ủi, sẻ chia, và xa hơn, là dự báo trước những chuyện trong tương lai. Không ai nói được đích xác hiện tượng bói Kiều có từ khi nào, nhưng biết là có từ rất lâu, có lẽ ngay sau khi "Truyện Kiều" chiếm được niềm tin yêu của đông đảo bạn đọc. Trước Cách mạng tháng Tám khá lâu, chuyện bói Kiều đã phổ biến trong dân gian, và nhà văn Ngô Tất Tố đã đưa vào trong tiểu thuyết "Lều chõng". Khi Vân Hạc đi thi, vợ là cô Ngọc muốn biết trước kết quả nên đã dùng "Truyện Kiều" để bói và được bốn câu:
Bó thân về với triều đình
Hàng thân lơ láo, phận mình ra đâu
Áo xiêm ràng buộc lấy nhau
Vào luồn, ra cúi công hầu mà chi?
"Cứ trong ý tứ mà suy", cô Ngọc biết chồng sẽ hỏng thi, nếu như đậu thì sẽ làm quan, là người của triều đình, trái với ý của bốn câu thơ trên. Vân Hạc học giỏi, khi thi hỏng, rất buồn, nhưng vợ không buồn và lựa lời an ủi chồng rằng chẳng qua vì cái số, đã được báo trước trong "Truyện Kiều".
Nhà thơ Tế Hanh đã mê Kiều từ thời còn học sinh. Ông bảo rằng, muốn hiểu được cái hay của Truyện Kiều thì khi đọc cần thắp hương, để khói hương đưa người về cõi tâm linh thanh tịnh. Đã nhiều lần ông bói Kiều và cảm thấy rất nghiệm. Ông kể rằng, năm 1942, ông thi tú tài phần thứ nhất, lần đầu thi vào tháng 5, lần hai vào tháng 8. Lần đầu, sau khi đậu phần thi viết, bước vào thi vấn đáp ông bắt thăm được câu hỏi về Napoléon, ông trả lời lúng túng bị bà giáo người Pháp tên là Alada cho điểm thấp nên bị trượt. Trước khi thi lần hai, Tế Hanh bói Kiều, đúng hai câu:
Khi nên cảnh cũng chiều người
Nhẹ nhàng nợ trước đền bồi duyên sau.
Ông rất mừng, nhưng vẫn chăm chỉ ôn tập vì nhớ tới lời nhắc nhở của Nguyễn Du là "Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều".
Lần thi ấy, sau khi đậu thi viết, vào phần vấn đáp, ông lại bắt được câu hỏi về Napoléon như lần thứ nhất. Do lần trước bị hỏng, về nhà, ông đọc lại thật kỹ lịch sử về Napoléon, nên lần này trả lời không những đầy đủ mà còn hết sức khúc chiết, được thầy giáo người Pháp Bourotts cho điểm rất cao. Thế là lần ấy ông đỗ, hoàn toàn ứng với câu "Nhẹ nhàng nợ trước, đền bồi duyên sau"!
Nhiều khi bói Kiều được những câu dễ hiểu, nhưng có khi được những câu mới đọc qua chẳng thấy gì liên quan tới điều mình muốn biết, cần phải luận mới hiểu được nội dung. Cũng theo nhà thơ Tế Hanh, ông Phạm Liệu, thân sinh nhà thơ Phạm Hầu, quê ở xã Trường Giang, huyện Diên Phước, Quảng Nam, từng làm Thượng thư dưới triều Nguyễn. Hồi con đi học, ông ra Huế dự kỳ thi hương. Trước lúc lên đường đi thi, ông bói Kiều, đúng hai câu:
Dưới cờ gươm tuốt nắp ra
Chính danh thủ phạm tên là Hoạn Thư.
Kỳ thi ấy ông đỗ thủ khoa, ứng với chính danh thủ phạm. Kỳ diệu hơn nữa, về sau ông làm Thượng thư bộ Binh, ứng với Dưới cờ gươm tuốt nắp ra!
Trong hồi ký của Trần Trọng Kim có kể lại một chuyện liên quan tới bói Kiều. Năm 1944, vì sợ bọn Pháp bắt mất một số người tin cậy của mình, Nhật đã bố trí cho Trần Trọng Kim, Dương Bá Trạc, Trần Văn Ân, Đặng Văn Ký... "sơ tan" sang Singapore một thời gian. Khi các ông ở Singapore, do ăn uống quá kham khổ, thuốc thang không có, bệnh tật liên miên, nên ai cũng muốn trở về nước. Một hôm, Dương Bá Trạc nói vời mọi người rằng sắp được về rồi, mọi người hỏi nguốn tin ở đâu, thì ông Trạc chỉ vào hai câu Kiều vừa bói được:
Việc nhà đã tạm thong dong
Tinh kỳ giục giã đã mong độ về.
Ông Kim cùng những người khác không tin, không ngờ ít hôm sau mọi người được về nước thật, chỉ trừ ông Dương Bá Trạc đã "về" theo nghĩa khác, vì ông mất ở Singapore!
Bà Minh Mị, năm nay đã 90 tuổi, với biệt danh Hà Thành độc giả, một người thuộc lòng Truyện Kiều từ nhỏ và cũng đã từng bói Kiều khi còn học sinh. Bà kể rằng, lần ấy sau khi thi xong, vì nóng lòng muốn biết kết quả nên đã bói Kiều. Kết quả được hai câu:
Có cổ thụ, có sơn hồ
Cho nàng ra đó giữ chùa, chép kinh.
Bà không hiểu ý nghĩa ra sao, được thân sinh bà kết luận rằng bà sẽ đậu. Bà đọc hai câu thơ rồi hỏi lại:" Thế sau này con đi tu hở bố?". Ông cụ cười và giải thích rằng:" Không phải thế! Trước khi bói, con đã khấn xin để biết được kết quả kỳ thi này của con, nên không thể hiểu như vậy được, Trong "Truyện Kiều", hai câu này nói rằng Hoạn Thư chấp nhận nguyện vọng của Thuý Kiều "Rắp đem mệnh bạc xin nhờ cửa không", thì ở đây người ta cũng chấp nhận nguyện vọng của con, tức là con đỗ thi". Và đúng như vậy, kỳ thi đó bà trúng tuyển.
Sinh thời, nhà thơ Gia Ninh kể chuyện đi công tác cùng nhà thơ Xuân Diệu ở tỉnh Nghệ An trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Vì phương tiện giao thông không có, hai ông phải đi bộ liên tục nên xế chiều muốn dừng lại nghỉ ở một làng cạnh quốc lô. Bà con người làng khuyên các ông nên đi thêm mấy cây số nữa lại nghỉ, vì ở đây máy bay Pháp thường bắn phá. Hai ông đang chần chừ chưa biết quyết định ra sao, thì Xuân Diệu mở túi dết, lấy "Truyện Kiều" ra bói, và được hai câu:
Rạng ra gửi đến xuân Đường
Thúc ông cũng vội giục chàng ninh gia.
Hai nhà thơ quyết định đi ngay vì ba chữ thúc, vội giục, đó là chưa kể chàng ninh gia là chàng Gia Ninh nói ngược. Đi được chừng ba bốn cây số ngoảnh lại thì thật hú vía: máy bay Pháp đang bắn phá ngôi làng hai nhà thơ định nghỉ lại. Xuân Diệu nói với Gia Ninh:" Cô Kiều cứu chúng mình đấy!"
Hồi tôi còn nhỏ, nghe kể chuyện ở quê có một học sinh học thật xuất sắc, trên đường đi thi bị chết đuối, mất tích, người ta nhắn tin về cho ông bố, nhưng để ông đỡ choáng, họ bảo rằng anh ta bị cảm hiện đang nằm ở trạm xá nọ. Khi nghe người đưa tin nói vậy, ông bố nói:" Đừng giấu tôi nữa, thằng con tôi chết đuối rồi! Thôi, để tôi đi tìm xác con tôi". Sau khi thi thể kẻ xấu số đã được tìm thấy và chôn cất tử tế, người ta hỏi sao ông biết trước chuyện này, ông bảo rằng, khi con đi thi, ông bói Kiều và được hai câu:
"Đành thân cát lấp, sóng vùi
Tiếc công cha mẹ, thiệt đời thông minh".
Và ông đã thốt lên: "Thôi còn chi nữa mà mong/ Đời người thôi thế là xong một đời", nên sẵn sàng đón tin dữ.
Hồi phong trào sinh đẻ có kế hoạch mới được vận động, một ông chồng vốn nhà con một, vợ sinh hai lần được hai "thị mẹt", đứa thứ hai đã đi học, thế mà không chửa đẻ gì thêm để cho ông hy vọng người "nối dõi tông đường", trong khi ông vẫn trẻ khoẻ, vợ ông vẫn phây phây ra chứ đau ốm gì đâu. Vốn dòng nhà Nho, ông mê "Truyện Kiều" và thỉnh thoảng có bói Kiều, nhân vợ đi họp đại hội phụ nữ toàn xã, ông ở nhà tắm rửa sạch sẽ, thay quần áo mới, thắp nén hương thơm và đem "Truyện Kiều" ra bói.
Ông ngồi xếp bằng, đối diện với bát hương, hai tay chắp lại, kẹp "Truyện Kiều" ở giữa và nâng lên khấn: " Lạy vua Từ Hải, lạy vãi Giác Duyên, lạy tiên Thuý Kiều...tên con là...năm nay ...tuổi. Chúng con mới được hai mụn con gái, muốn có đứa con trai nối dõi tông đường, nhưng hơn mười năm nay, không hiểu sao vợ con không chửa đẻ gì cả. Cho con xin một quẻ để biết được nguyên nhân. Lạy vua Từ Hải, lạy vãi Giác Duyên, lạy tiên Thuý Kiều, hãy cho con bốn câu, từ câu thứ... trang bên phải." Xong, ông mở ra đọc:
Bây giờ tình mới tỏ tình
Thôi thôi đã mắc vào vành chẳng sai
Chước đâu có chước lạ đời
Người đâu mà lại có người tinh ma.
Khi luận được nội dung lời bói, mặt ông đỏ lên như gấc chín vì giận, nhưng vốn con nhà nho, đợi đến tối hôm đó, khi cơm nước xong xuôi, ông mới hỏi vợ:
- Bà trốn tôi đi đặt vòng từ khi nào?
Bà vợ hết sức ngạc nhiên vì chuyện đó bà giấu ông và đã xẩy ra ngót chục năm trời, sao ông nay ông mới động tới.
- Ba tưởng giấu được tôi mãi chăng? Ba giấu nhưng "Truyện Kiều" mách tôi. Bà đọc đi ... Rồi ông gí bốn câu thơ trên vào sát măt bà, sát đến nỗi bà phải ngửa người lùi ra mới đọc được. Bà chả hiểu gì ý nghĩa, ông giải thích:
- "Thôi thôi đã mắc vào vành chẳng sai", nghĩa là bà đã đặt vòng, có nơi gọi vòng là vành, phải không? Đặt vòng là cái "chước lạ đời", bà giấu tôi để làm việc đó "là người tinh ma", bà hiểu chưa?
Bà vợ không nói lại một câu nào, chỉ thầm nghĩ, không ngờ trong quyển "Truyện Kiều" hàng ngày ông vẫn đọc lại chứa đựng những khả năng kỳ diệu như thế?

(ST)

Thứ Tư, ngày 08 tháng 4 năm 2015

Cửu tinh Phi tinh và bí quyết Sinh Trai hay Gái



Cửu tinh Phi tinh và bí quyết Sinh Trai hay Gái

Cửa chính, phòng ngủ hoặc hướng kê đầu khi ngủ có ảnh hưởng rất lớn với việc Sinh con trai hay con Gái. Hãy chú ý với các sự kết hợp của Cửu tinh lưu niên, nguyệt tinh trong tháng để đạt được hiệu quả cao nhất.
A. Cửu tinh lưu niên và nguyệt tinh hàng tháng

Giường ngủ là nơi chủ nhân nghỉ ngơi, nên chọn ngày tốt giờ tốt mà kê đặt. Nếu như tại lúc kết hôn vào ngày tốt, lại an giường tại chỗ tốt, lấy trung tâm phòng ngủ làm lập cực chia làm tám phương mà luận:

Đầu gối về phương Khí Sinh Vượng của Dương Tinh, kết thành thai nam

Đầu gối phương Khí Sinh Vượng của Âm tinh chủ sinh nữ.

Phương Pháp như sau:

1.Theo chín sao phân bố mỗi tháng bay vào chín cung mà an. Các sao gồm : Nhất Bạch, Nhị Hắc, Tam Bích, Tứ Lục, Ngũ Hoàng, Lục Bạch, Thất Xích, Bát Bạch, Cửu Tử.

2.Tính Âm Dương của Cửu tinh:

Dương tinh: Nhất Bạch, Lục Bạch, Bát Bạch, Tam Bích.

Âm Tinh : Nhị Hắc, Tứ Lục, Ngũ Hoàng, Thất Xích, Cửu Tử.

3. Khi vợ chồng quan hệ, nếu vào tháng đầu gối về phương bốn sao Dương sẽ sinh Nam, Đầu gối về phương bốn cung vị Âm Tinh sẽ sinh nữ, vì thế rất nên nắm vững vòng quay của chín sao trên các cung vị.

4.Thiên văn chín sao năm năm bay, Địa Lý chín sao chẳng đổi dời, bay đến tương sinh sinh quý tử, bay đi tương khắc định sinh thư, Tam Bạch đến Tọa chủ có mang, Tam Bạch vào cửa hỷ sự đến.

5.An giường ở 3 phương Bạch (Nhất Bạch, Lục Bạch, Bát Bạch), hoặc cửa phòng tại 3 phương Bạch (Nhất Bạch, Lục Bạch, Bát Bạch), chủ sinh trai. Giường và cửa phòng đều tại 3 phương Bạch tương sinh thì sinh nam không sai, lại được Đương Niên Thái Tuế Tinh đều đến 3 phương Bạch chủ sinh Quý Mệnh Nam Nhi.

Năm tháng Tử Bạch đoán quyết thiên văn chín sao hàng năm suy đoán, địa lý chín cung không thay đổi. Bay đến tương sinh sinh quý tử, bay lại khắc phục là kỳ hung.

Tam Bạch đáo tọa chủ có thai, Tử Bạch vào cửa hỷ khí đến. Hình hại không vong đều không thực, sinh phù ứng được quý nhân tài.

Chú ý : Lưu Niên chín sao bay đến, lấy phương vị bản cục làm chủ, Sao bay đến là khách, khách sinh chủ, chủ thêm đinh. Khách khắc chủ, chủ hung họa, như phương Càn là Kim, Bát Bạch giá lâm là Sinh, Cửu tử bay đến là khắc, chín sao lấy 1, 6, 8 Tam Bạch là Cát Tinh, nếu không khắc bản Phương, thì đoán là cát. Nếu phạm hình hại không vong tất vô lực, không thể là Phúc.

Thủy Nhất Bạch khách tinh bay đến Chấn, là thủy sinh mộc, nhưng Tý Mão tương hình.

Lại Nhất Bạch Khách Tinh bay vào Khôn, Tý Mùi tương hại, Không Vong chỉ gốc giáp chỗ Không Vong


Nếu các bạn biết kết hợp với việc xoay hướng bếp cho phù hợp để đón Thiên ất quý nhân nữa thì kết quả đạt được càng cao.

Thứ Hai, ngày 06 tháng 4 năm 2015

Chiêu Quý Nhân trong phép định thời gian sinh con



Để luận giải Lá số tử vi, Thần sát đóng vai trò rất quan trọng, có tác dụng rất lớn và chuẩn xác, ảnh hưởng đến số phận của một con người. Làm cha mẹ ai chẳng muốn con mình sinh ra xinh đẹp, thông minh và thành đạt. Một yếu tố quan trọng là phải chiêu được Quý nhân. Vậy làm sao để chiêu được Quý nhân? Làm sao để bé sinh ra có vận mệnh tốt nhờ hội tụ Cát thần, THIÊN THỜI, ĐỊA LỢI, NHÂN HÒA?
Do đó, ngoài yếu tố Thiên định (Người tính không bằng trời tính), Nếu vì lý do nào đó phải chọn ngày giờ sinh cho con trẻ thì cần hội đủ nhiều yếu tố như: không chọn các ngày giờ yểu mạng, sát phu thê, bần tiện, ... chiêu ngày giờ có thân vượng, âm dương ngũ hành đầy đủ và nhất là hội tụ được các Quý Nhân, đắc thời, đắc thế, đắc địa, dụng thần tốt, vinh hiển, can chi hợp cát, .... nói chung là rất nhiều bước.

Xin giới thiệu và hướng dẫn các bạn cách chiêu quý nhân (Cát thần trong tứ trụ) một cách khá dễ hiểu, có thể mang lại cho Bé sắp sinh một vận mệnh cát tường.

Cái gọi là cát thần thực ra không phải là nói trong Tứ trụ cát thần càng nhiều càng tốt, hay cái gọi là hung sát cũng không phải là nói trong Tứ trụ không có là tốt. Rất nhiều thần sát luôn luôn có cát, có hung.

Từ kinh nghiệm đã tổng kết được ta thấy người có nhiều thần sát là mệnh cục tương đối phức tạp, nhưng nếu tổ hợp Tứ trụ tốt lại phối với thần sát thì người đó thường là những người siêu quần xuất chúng. Còn nói chung đối với người dân bình thường thì thần sát không nhiều, thần sát càng ít thì việc dự đoán càng đơn giản. Đương nhiên mọi việc không bao giờ là tuyệt đối, cũng như người hung sát nhiều chưa chắc đã gặp xấu, mấu chốt của vấn đề là phải xem các tổ hợp của Tứ trụ và tổ hợp của tuế vận là hỉ hay là kị.

Dưới đây là các Tổ hợp Tứ trụ Cát (Quý nhân) cơ bản và dễ tìm

Ngoài ra thần sát hoặc cát hoặc hung cũng không phải là tuyệt đối, mà chỉ có thể nói rằng một thần nào đo lấy cát làm chính, một sát nào đó lấy hung làm chính. Cát thần mà gặp phải hình xung khắc hại thì cũng như không có, hung sát mà bị chế hợp không đủ sức để làm hại thì cũng chẳng còn gì đáng gọi là kị. Nói chung các thiên can và các địa chi đóng dưới nó gặp phải cát thần hay hung sát nhờ đó mà trở thành vượng hay suy. Phải xem các can chi đó bị hình hợp , xung khắc hay không để xem nó tác dụng hay không có tác dụng. Trong mệnh cục gặp được cát thần thì cả cuộc đời thuận lợi trọn vẹn, trong vận, trong năm gặp được cát thần thì đã tốt càng thêm tốt. Trong Tứ trụ kị gặp hung thần vì như thế cả cuộc đời hay bị tai hoạ, trong vận, trong năm gặp phải hung thần thì hung càng thêm hung.

I. Quốc Ấn quý nhân - vinh hiển thành đạt
Người mà trong tứ trụ có Quốc Ấn quý nhân thì hầu hết đều thành đạt và có địa vị cao trong xã hội. Người này chủ về tính cách trung thực, nghiêm túc, nhân hậu.
Cách tra Quốc Ấn quý nhân là lấy can ngày hoặc can năm sinh làm cơ sở để tra các địa chi khác trong tứ trụ. Nếu tổ hợp tứ trụ nào ở vào một trong các trường hợp dưới đây là có Quốc Ấn quý nhân nhập mệnh.
1. Can ngày (hoặc can năm) là Giáp gặp chi Tuất trong tứ trụ.
2. Can ngày (hoặc can năm) là Ất gặp chi Hợi trong tứ trụ.
3. Can ngày (hoặc can năm) là Bính gặp chi Sửu trong tứ trụ.
4. Can ngày (hoặc can năm) là Đinh, Kỷ gặp chi Dần trong tứ trụ.
5. Can ngày (hoặc can năm) là Mậu gặp chi Sửu trong tứ trụ.
6. Can ngày (hoặc can năm) là Kỷ gặp chi Dần trong tứ trụ.
7. Can ngày (hoặc can năm) là Canh gặp chi Thìn trong tứ trụ.
8. Can ngày (hoặc can năm) là Tân gặp chi Tỵ trong tứ trụ.
9. Can ngày (hoặc can năm) là Nhâm gặp chi Mùi trong tứ trụ.
10. Can ngày (hoặc can năm) là Quý gặp chi Thân trong tứ trụ.
 
II. Thiên Ất quý nhân - thông tuệ, phú quý
Thiên Ất quý nhân là cát tinh (sao tốt) chủ về trí tuệ, sự thông minh. Người mà trong tổ hợp tứ trụ có Thiên Ất quý nhân thì cuộc đời gặp hung hóa cát. Người mà thân vượng thì càng thêm phú quý, sức khỏe dồi dào.
Trong tổ hợp tứ trụ, cách tra Thiên Ất quý nhân là lấy can ngày sinh hoặc can năm sinh làm chủ, từ đó xét đến mối liên hệ với các can chi khác của giờ, ngày, tháng hoặc năm sinh. 
- Can ngày hoặc can năm là Giáp (hoặc Mậu) gặp chi Sửu (hoặc Mùi) trong tứ trụ
- Can ngày hoặc can năm là Ất (hoặc Kỷ) gặp chi Tý (hoặc Thân) trong tứ trụ
- Can ngày hoặc can năm là Bính (hoặc Đinh) gặp chi Hợi (hoặc Dậu) trong tứ trụ
- Can ngày hoặc can năm là Canh (hoặc Tân) gặp chi Dần (hoặc Ngọ) trong tứ trụ
- Can ngày hoặc can năm là Nhâm (hoặc Quý) gặp chi Mão (hoặc Tỵ) trong tứ trụ.


III. Thiên Tướng quý nhân
Thiên Tướng là sao vừa chủ về văn vừa chủ về võ. Người có Thiên Tướng trong tứ trụ thường có khả năng nắm quyền, được mọi người tín phục. Người trong tổ hợp tứ trụ có Thiên Tướng lại có thêm các sao tốt khác như Kình Dương, Thiên Mã thì sự nghiệp vô cùng hiển đạt.
Cách tra Thiên Tướng là lấy chi ngày sinh hoặc chi năm sinh làm cơ sở để tra các địa chi trong tứ trụ. Nếu tứ trụ nào ở vào một trong các trường hợp dưới đây là có sao Thiên Tướng nhập mệnh.
1. Chi ngày (hoặc chi năm) là Dần, Ngọ, Tuất thấy chi Ngọ.
2. Chi ngày (hoặc chi năm) là Thân, Tý, Thìn thấy chi Tý.
3. Chi ngày (hoặc chi năm) là Tỵ, Dậu, Sửu thấy chi Dậu.
4. Chi ngày (hoặc chi năm) là Hợi, Mão, Mùi thấy chi Mão.
Ví dụ
Người sinh lúc 6 giờ ngày 14/9/1999 (âm lịch) có tổ hợp tứ trụ là: giờ Quý Mão, ngày Đinh Mùi, tháng Giáp Tuất, năm Kỷ Mão.
Theo trường hợp 4, chi ngày Mùi (Đinh Mùi) gặp chi Mão của năm (Kỷ Mão), do vậy tổ hợp này xuất hiện Thiên Tướng.




Thiên đức – Nguyệt đức quý nhân:

Cách tra Thiên đức, Nguyệt đức là lấy địa chi tháng sinh làm chủ để tìm can hoặc chi trong tứ trụ như sau:

A: Thiên đức quý nhân:
Tháng dần thấy đinh, tháng mão thấy thân, tháng thìn thấy nhâm, tháng tỵ thấy tân, Tháng ngọ thấy hợi, tháng mùi thấy giáp, tháng thân thấy quý, tháng dậu thấy dần, tháng tuất thấy bính, tháng hợi thấy ất, tháng tý thấy tỵ, tháng sửu thấy canh.

B: Nguyệt đức quý nhân:
Sinh các tháng Dần ngọ tuất thấy bính.
Sinh các tháng Thân tý thìn thấy nhâm.
Sinh các tháng Hợi mão mùi thấy giáp.
Sinh các tháng Tỵ dậu sửu thấy canh.

Quý nhân Thiên Đức và Nguyệt Đức là cát tinh, tính tình nhân từ đôn hậu, cuộc đời phúc nhiều, ít gặp nguy hiểm, gặp hung hóa cát, hóa hiểm thành an.... như có thần linh hộ vệ. Nếu trong tứ trụ mà có cả Thiên, Nguyệt Đức thì người đó có năng lực gặp hung hóa cát rất mạnh, gặp phải hung thần cũng bớt xấu rất nhiều, nhưng gặp phải xung, khắc thì vô dụng.

Trên đây mới chỉ là những kiến thức cơ bản nhất, khi vận dụng cần kết hợp mệnh cung, mệnh quái, vượng suy của ngũ hành theo theo tiết lệnh, tìm sự tương sinh, tránh tương khắc. 

Quang Đạo: ĐT 0983225079.  Địa chỉ Email: lequang306@gmail.com
Nhận xem quẻ dịch để biết cát hung về Gia sự, cầu tài, cầu lộc, cầu danh, tình duyên, hôn nhân, cầu con... để được luận giải và hướng dẫn cách tìm cát tránh hung; Xem số Tử vi, xem ngày giờ tốt và Tư vấn Phong thủy. Kinh phí tự nguyện.

Thứ Sáu, ngày 20 tháng 3 năm 2015

Những điều lý thú chưa biết về ví dặm xứ Nghệ

 Câu hò xứ Nghệ là giai điệu ấm tình quê mà Bác Hồ còn thương nhớ mãi trước lúc đi xa.

Từ xa xưa, Nghệ Tĩnh là miền biên giới cực Nam của Quốc gia Đại Việt. Nơi đây đã hình thành hai vùng văn hoá dân gian mang sắc thái riêng biệt cùng song song tồn tại.
Đó là văn hoá dân gian các dân tộc thiểu số sống rải rác khắp miền Tây rộng lớn (chiếm khoảng 2/3 diện tích tự nhiên toàn Tỉnh) và văn hoá dân gian của người Việt (dân tộc kinh), sống ở miền trung du, đồng bằng và ven biển.
Trong kho tàng văn hoá Dân gian - Dân tộc cổ truyền ấy, thì dân ca là một trong những loại hình tiêu biểu, mang những nét đặc trưng bản địa rõ nhất.
“Điền dã” với dân, đi tìm câu ví dặm
Để xây dựng một nền văn nghệ mới Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc, chúng ta không thể không coi trọng việc sưu tầm, nghiên cứu và phát huy nguồn văn hoá văn nghệ dân gian nói chung, dân ca nói riêng.
Việc này phải được tiến hành một cách khẩn trương cấp bách, bởi vì dân ca chỉ tồn tại đồng thời với sự tồn tại của các nghệ nhân dân gian, mà phần lớn những nghệ nhân đó đều đã ở vào tuổi "xưa nay hiếm" đang gần đất xa trời, nếu không kịp thời khai thác thì e rằng vốn cổ quý báu ấy sẽ đi theo các cụ về thế giới bên kia. Như vậy chúng ta không chỉ có lỗi với cha ông mà còn mắc lỗi với cả con cháu sau này.
Ý thức được điều đó, nhiều thập kỷ qua, các nhà nghiên cứu văn hoá dân gian tỉnh nhà đã có nhiều đợt điền dã khắp các miền quê trong tỉnh để sưu tầm khai thác vốn cổ quý báu đó. Tiêu biểu trong số họ phải kể đến các ông (bà): Ninh Viết Giao, Nguyễn Đổng Chi, Thái Kim Đỉnh, Trần HữuThung...(sưu tầm văn học); Lê Hàm, Đào Việt Hưng, Lê Quang Nghệ, An Thuyên, Hoàng Thọ...(sưu tầm Dân ca); Bích Thu, Trần Nghiên (sưu tầm Mỹ thuật); Lan Phương (sưu tầm múa) ...
Riêng Đoàn Dân ca Nghệ An thì hầu hết các diễn viên và nhạc công đều phân ra từng tốp thực hiện chế độ "3 cùng" với các nghệ nhân dân gian (cùng ăn + cùng ở + cùng học tập - học hát, học múa, học đàn) trong nhiều đợt điền dã, có những đợt" nằm vùng" suốt hơn 3 tháng.
Nhiều tư liệu quý về văn hoá văn nghệ dân gian - dân tộc đã được sưu tập khai thác và sử dụng; nhiều công trình nghiên cứu và thực nghiệm đã được công bố bằng phương tiện in ấn (xuất bán sách và băng đĩa) và bằng công diễn trên sân khấu hoặc trên sóng phát thanh truyền hình…
Xin điểm qua mấy nét cơ bản về dân ca ví dặm để bạn đọc có thể hình dung được phần nào diện mạo của nó.
- Thể hát ví: Ví có nhiều điệu như: ví đò đưa, ví phường vải, ví phường cấy, ví phường võng, ví phường chè, ví đồng ruộng, ví trèo non, ví mục đồng, ví chuỗi, ví ghẹo...
Ví thuộc thể ngâm vĩnh, bằng phương pháp phổ thơ dân tộc ( lục bát, song thất lục bát, lục bát biến thể...).
Ví thường là hát tự do, không có tiết tấu từng khuôn nhịp, người hát có thể co dãn một cách ngẫu hứng. Âm điệu cao thấp ngắn dài có khi còn tuỳ thuộc vào lời thơ (ca từ) bằng hay trắc, ít từ hay nhiều từ.
Tình điệu (tính biểu cảm) thì tuỳ vào môi trường hoàn cảnh, không gian thời gian và tâm tính của người hát. Âm vực của ví thường không quá một quãng 8. Tình điệu ví nghe trang trải mênh mang sâu lắng, bâng khuâng xao xuyến, tha thiết ân tình. Tuy vậy, vẫn có loại ví ghẹo và ví mục đồng nghe dí dỏm hài hước, nghịch ngợm hồn nhiên tươi trẻ.
- Thể hát dặm: Dặm là thể hát nói, bằng thơ ngụ ngôn (thơ / vè 5 chữ), nói cách khác thì dặm là thơ ngụ ngôn / vè nhật trình được tuyền luật hoá. Dặm cũng có nhiều làn điệu như: Dặm kể, dặm cửa quyền, dặm ru, dặm vè, dặm nối, dặm xẩm...
Khác với ví, dặm là thể hát có tiết tấu rõ ràng, có phách mạnh phách nhẹ, có nhịp nội nhịp ngoại.Thông thường một bài dặm có nhiều khổ, mỗi khổ có 5 câu (câu 5 thường điệp lại câu 4), mỗi câu có 5 từ (không kể phụ âm đệm). Tuy vậy, cũng có những bài dặm/ vè không phân khổ rõ ràng, mà cứ hát một lèo, có khi đến hàng chục hàng trăm câu, và mỗi câu cũng không nhất nhất 5 chữ mà có thể 4 hoặc 6,7 chữ (do lời thơ biến thể).
Dặm rất giàu tính tự sự, tự tình, kể lể khuyên răn, phân trần bày giải. Cũng có loại dặm dí dỏm khôi hài, châm biếm trào lộng.Và có cả dặm trữ tình giao duyên.
Môi trường - Không gian và tính chất diễn xướng
Qua tìm hiểu và nghiên cứu về tính chất và môi trường không gian diễn xướng dân ca hò-ví-dặm ta thấy rằng:
1. Hát gắn với không gian và môi trường lao động như: cày cấy, gặt hái, đắpđập đào mương, chăn trâu, cắt cỏ (đồng quê); tung chài kéo lưới, chèo chống thuyền bè (sông nước); hái củi, đốt than, bứt tranh, kéo gỗ, bóc măng (núi non); quay tơ dệt vải, trục lúa, đan lát ( xóm thôn).
2. Hát mang tính du hý vào những dịp Hội hè, Tết nhất, Đình đám, hoặc những đêm trăng thanh gió mát bạn bè giao du thưởng ngoạn, thi thố tài năng ứng tác văn chương chữ nghĩa.
3. Tính giao duyên giữa những lứa đôi trai gái để thổ lộ tâm tình, để gửi gắmniềm thương nỗi nhớ, để kén chọn trai tài gái đảm, tìm bạn trăm năm.
4. Tính tự tình, nghĩa là mượn câu hát để bộc lộ nội tâm. Những nỗi niềm sâu kín, những uẩn khúc cuộc đời, những mảnh tình dang dở, những số liếp long đong, hoặc là để biểu thị sự bất bình xã hội.
5. Tính tự sự. Tức là dùng hình thức kể vè để thuật lại những sự việc xẩy ra trong làng ngoài xã, hoặc kể về một sự tích, một giai thoại nào đó, hoặc muốn biểu dương người tốt việc tốt, hay phê phán những thói hư tật xấu...
6. Tính chất tâm linh. Tức là hát trong khi thờ cúng, tế lễ, cầu vong cầu đồng, phù thuỷ, làm chay làm đàn...
7. Tính giáo huấn. Thông qua câu hát để dạy bày khuyên nhủ người đời về những điều hay lẽ phải, về thuần phong mỹ tục,về đạo lý nhân nghĩa ,tôn sư trọng đạo, tứ đức tam tòng,về lệ làng phép nước, về anh hùng nghĩa khí , ái quốc trung quân...
8. Tính hành nghề (mưu sinh) đối với các phường trò chuyên nghiệp hoá,hoặc ở các gánh hát ca trù, các ông xẩm hát rong và các ông thầy cúng.
9. Tính đa dùng. Nghĩa là nó giàu tính biểu cảm, cùng một cốt nhạc (một làn điệu) có thể chuyển tải được nhiều nội dung văn học, nhiều đối tượng miêu tả, nhiều sắc thái tình cảm. Đây có lẽ là một đặc tính nổi trội của dân ca ví dặm.
10. Tính phổ cập. Hầu như khắp mọi miền quê, trai gái trẻ già ai ai cũng có thể hát được.

Bảo tồn & phát huy Dân ca xứ Nghệ
- Chúng ta cần phải bảo tồn các điệu hát nguyên gốc, phục hồi các hình thức diễn xướng cộng đồng, đó là cách bảo tồn không gian môi trường hát dân ca xưa (hát trên sông nước, trên ruộng đồng, trên núi non, trong thôn xóm & trong nhà.
-Kế thừa & phát triển bằng hình thức "bình cũ rượu mới", nghĩa là dùng nguyên xi các làn điệu cũ rồi soạn lời mới có nội dung hiện thực, phản ánh cuộc sống sôi động phong phú và hào hùng của nhân dân ta như: Ngô khoai tranh đấu, Thần sấm ngã, Trước lúc lên đường, Dâng Người câu ví Thành Sen, Đẹp lắm quê mình, Hành hương về quê Bác, Xứ Nghệ quê tôi, Vững một niềm tin...
-Phát triển bằng ca khúc mới, tức là lấy chất liệu dân ca rồi phát triển thành những ca khúc mới mang hơi thở và nhịp sống hiện đại. Ta có thể kể ra hàng loạt những ca khúc nổi tiêng được đông đảo công chúng ưa thích như: Xa khơi, Đào công sự, Chào em cô gái Lam Hồng, Cô dân quân làng Đỏ, Câu hò trên đất Nghệ an, Tiêng hát sông Lam, Trông cây lại nhớ đến Người, Từ làng Sen, Đêm nghe hát đò đưa nhớ Bác, Giữa Mạc tư Khoa nghe câu hò xứ Nghệ, Lời Bác dặn trước lúc đi xa, Khúc tâm tình người Hà Tĩnh, Người đi xây hồ Kẻ gỗ, Hương cau vườn Bác, Về hôi làng Sen, Ân tình xứ Nghệ, Xứ Nghệ quê tôi...
-Phát triển bằng hình thức sân khấu hóa (dân ca kịch) .
Qua hàng chục năm nghiên cứu và thể nghiệm, với hàng chục vở lớn nhỏ, đủ các thể loại (Bi - hài - hùng) như : Không phải tôi, Khi ban đội đi vắng, Cô gái sông Lam, Đầu bến sông, Hoa đất, Trắng hoa mai, Vụ án kỳ lạ, Đốm lửa núi Hồng ... Đến vở Mai thúc Loan (1985), kịch hát dân ca Nghệ Tĩnh đã nghiễm nhiên trở thành một thành viên mớí trong đại gia đình kịch hát dân tộc Việt Nam.

Từ đó đến nay Kịch hát Nghệ Tĩnh lại tiếp tục dàn dựng nhiều vở nổi tíêng khác và đã được tặng nhiều Huy chương vàng-bạc tại Hội diễn sân khấu chuyên nghiệp. Chính từ cái nôi dân ca kịch này đã nẩy nở nhiều tài năng nghệ sĩ, trong đó có NSND Hồng Lựu, các NSƯT: Song Thao, Xuân Năm, Đức Duy, Danh Cách, Đình Bảo, Lệ Thanh, Tiến Dũng, Hồng Năm, An Phúc, Minh Tuệ, Hồng Dương, Thanh Toàn …
Như vậy, rõ ràng dân ca ví dặm đã có bước phát triển về chất, đó là sự chuyển hoá từ hình thức ca hát dân gian, đến ca nhạc chuyên nghiệp, rồi ca kịch sân khấu.

Ở đây chúng ta cũng cần biết thêm rằng, dân ca thuần tuý thường chỉ tồn tại trong môi trường diễn xướng dân gian, nhưng khi ta đưa dân ca vào ca kịch thì trước hết phải sân khấu hoá dân ca - bởi khi đó hát là hành động, là nội tâm, là tính cách của nhân vật.
Do yêu cầu nội tại của kịch, ngoài việc ứng dụng các làn điệu gốc, còn phải sáng tạo thêm nhiều "làn điệu " mới (đa dùng hoặc chuyên dùng) mang âm hưởng ví dặm, cấu trúc theo khúc thức dân gian, lời hát theo các thể thơ dân tộc, và phải biểu đạt được tâm trạng và tích cách nhân vật.
Một loạt làn điệu mới như: Giận mà thương, Hát khuyên, đại thạch, tứ hoa, xẩm thương, xẩm chợ, một nắng haisương, tình sâu nghĩa nặng, em giữ lời nguyền, khóc cha, cuộc đời nổi trôi, ai cứu chàng...(thể hát mang tâm trạng); các điệu: Con cóc, xoay xở, lập lờ, lập loè, đi rao, đèo bòng, khen Thầy tài, to gan, uất ức, bướm say hoa, chồng chềnh, lòng vả lòng sung...(thể hát nói-tính cách); hoặc như: Vào hội đông xuân, đứng thẳng người lên, gốc lúa quầng trăng, cha ơi ngồi dậy mà xem, hỡi công nông binh, hò vượt sông...(thể hát gây không khi sôi nổi hào hùng)…

Có thể nói các làn điệu mới sáng tạo bổ sung đã phần nào thoả mãn được những đòi hỏi cấp bách của công cuộc sân khấu hoá dân ca xứ Nghệ, qua sự sàng lọc của thời gian, nhiều làn điệu đã trở thành "bài tủ" không thể thiếu trong các vở diễn.
Từ những điều lý thú về câu ví dặm, lại thấy được rằng cái đúng đắn của câu "Học xưa vì nay, học cũ để làm mới". Câu hò ví dặm đã thực sự phục vụ cuộc sống đương đại, chứ không chỉ dừng lại ở hình thức bảo tồn thuần tuý, mặc dầu bảo tồn vốn cổ cũng hết sức cần thiết.
Từ dân ca cổ truyền, chúng ta cần tiếp tục bảo tồn nguyên bản, lập hồ sơ đệ trình UNESCO công nhận là di sản thế giới cần bảo vệ. Mặt khác chúng ta cũng cần phát triển sự nghiệp sân khấu hóa ví dặm mạnh hơn nữa, nhằm tạo ra những sản phẩm tinh thần mới, không ngừng thoả mãn nhu cầu thưởng thức ngày càng cao hơn, phong phú hơn của công chúng, góp phần xây dựng một nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
  • Nhạc sĩ Thanh Lưu
    (Nguyên trưởng đoàn dân ca Nghệ Tĩnh)

GIẬN MÀ THƯƠNG (NGUYỄN TRUNG PHONG; DÂN CA NGHỆ TĨNH)



GIẬN MÀ THƯƠNG (NGUYỄN TRUNG PHONG; DÂN CA NGHỆ TĨNH)
Khi em giận, anh vỗ về xin lỗi
Sợ u buồn làm lệ ướt mi em
Anh vẫn biết em chiều mưa sớm nắng
Giận thật nhiều nhưng vẫn cứ thương thôi !
Bài hát Giận Mà Thương đã được phổ biến rộng rãi và được hiểu là dân ca Nghệ Tĩnh. Thật ra không phải như vậy. Vào khoảng thập niên 60, Nghệ An có phong trào cải biên, phát triển và thể nghiệm dân ca. Những bài hát cải biên, phát triển thể nghiệm dân ca này được người dân ưa thích và được gọi là các làn điệu dân ca mới. Một trong những người chủ trì quan điểm dân ca như trên là ông Nguyễn Trung Phong, Phó trưởng Ty Văn hóa Nghệ An lúc đó. Ông là tác giả kịch bản, rất say sưa với việc đưa dân ca Nghệ Tĩnh lên sân khấu để thể hiện những đề tài hiện đại. Ở Nghệ An lúc đó, tuy chưa nhập với Hà Tĩnh thành một tỉnh, nhưng dân ca vẫn gọi là dân ca Nghệ Tĩnh.
Bài hát Giận Mà Thương sinh ra trên đất Diễn Bình, huyện Diễn Châu vào năm 1967. Trước đó, đội văn nghệ xã Diễn Bình đã dàn dựng vở dân ca "Không phải tôi", tác giả là anh Nguyễn Trung Giáp, lúc đó là Chủ nhiệm Hợp tác xã nông nghiệp Diễn Bình. Trong dịp một vị thứ trưởng Bộ Văn hóa về thăm Diễn Bình, đội văn nghệ xã biểu diễn chiêu đãi vở dân ca ấy. Vị thứ trưởng rất thú vị và khen rất hay. Sau đó, đội văn nghệ xã đi biểu diễn tại Hội nghị của tỉnh. Đoàn văn công tỉnh lấy vở này dàn dựng thành tiết mục chuyên nghiệp. Sau này đi dự liên hoan văn nghệ toàn quốc, vở kịch đã thành công tốt đẹp. Xưởng phim truyện miền Bắc Việt Nam quay thành bộ phim sân khấu dân ca.
Tiếp theo vở "Không phải tôi", đội Văn nghệ Diễn Bình dàn dựng vở "Khi ban đội đi vắng" của tác giả Nguyễn Trung Phong. Vở này nói lên tinh thần đấu tranh để xây dựng ý thức làm chủ hợp tác xã. Cuộc đấu tranh diễn ra giữa một cặp vợ chồng. Người chồng là lao động chính muốn lợi dụng khi ban đội đi vắng để buôn một chuyến chợ Lường (tức chợ Đô Lương). Người vợ kiên quyết không đồng ý và ngăn lại. Người chồng hiểu lầm và rất giận vợ. Người vợ phải phân trần, thanh mình lại với chồng.
Lúc này, sự biểu hiện của người vợ trên sân khấu bế tắc, vì trong các làn điệu dân ca nguyên gốc không đủ sức chứa đựng tâm trạng, kịch tính như mong muốn. Ông Nguyễn Trung Phong trực tiếp dàn dựng vở diễn, đêm nằm không ngủ, cứ lẩm nhẩm sáng tác một bài để nhân vật người vợ hát. Ông đã phác thảo ra bài Giận Mà Thương. Anh Thanh Tùng, cán bộ âm nhạc của tỉnh, chỉnh lý và ghi lại thành bản nhạc. Bài hát đã thể hiện thành công tâm trạng người vợ khuyên anh chồng đừng đi buôn. Đội văn nghệ Diễn Bình biểu diễn và bài hát Giận Mà Thương đã lan nhanh đi khắp nơi trong tỉnh, nhất là qua các đợt hội diễn.
Khoảng đầu năm 1969, nhạc sĩ Đỗ Nhuận, lúc đó là Tổng thư ký Hội Nhạc sĩ miền Bắc Việt Nam, đi công tác vào tuyến lửa. Đến Nghệ An, anh Văn Thế - cán bộ âm nhạc được cử đi cùng, đã hát rất nhiều bài dân ca địa phương để Đỗ Nhuận ghi âm. Trong đó có bài Giận Mà Thương. Nhưng anh Văn Thế lại quên giới thiệu tác giả. Có lẽ vì thế nhạc sĩ Đỗ Nhuận tưởng là một làn điệu dân ca nguyên gốc.
Ngâm thơ:
Anh ơi... ớ à khoan vội (mà) bực mình,
Em xin kể lại (mà) phân minh cho anh tỏ tường.
Anh cứ nhủ rằng em không thương
Em đo lường thì rất cặn kẽ
Chính thương anh nên em bàn với mẹ
Phải ngăn anh không đi chuyến ngược Lường
Giận thì giận mà thương thì thương
Giận thì giận mà thương thì thương
Anh sai đường thì em không chịu nổi
Anh yêu ơi xin đừng có giận vội
Mà trước tiên anh phải tự trách mình
Anh cứ nhủ rằng em không thương
Em đo lường thì rất cặn kẽ
Chính thương anh nên em bàn với mẹ
Phải ngăn anh không đi chuyến ngược Lường
Giận thì giận mà thương thì thương
Giận thì giận mà thương thì thương
Anh sai đường thì em không chịu nổi
Anh yêu ơi xin đừng có giận vội
Mà trước tiên anh phải tự trách mình
Ngâm thơ:
Chứ người ơi, em yêu anh cha mẹ nỏ ưng
Cấm em cửa trước thì em lại vòng ra cửa sau.
Em yêu anh cha mẹ đánh trăm roi,
Chứ xong rồi em đứng (ơ) dậy
Mà em quyết tâm thương chàng
Giận thì giận mà thương thì thương
Giận thì giận mà thương thì thương
Anh sai đường thì em không chịu nổi
Anh yêu ơi xin đừng có giận vội
Mà trước tiên anh phải tự trách mình.

-Lời của bài dân ca là thế này: "Anh ơi khoan vội bực mình/ Em xin kể lại phân minh anh tỏ tường/ Anh cứ nhủ (bảo) rằng em không thương/ Em đo lường rất chi cặn kẽ/ Chính thương anh em bàn với mẹ/ Phải ngăn anh đi chuyến ngược Lường/ Giận thì giận mà thương thì thương/ Anh đi sai đường em không chịu nổi/ Anh ơi anh, xin đừng có giận vội/ Trước tiên anh phải tự trách mình".
Rõ ràng, nghe hát, nhiều người không hiểu được người con trai ấy "đi sai đường", là đường gì mà khiến cô gái "không chịu nổi"? Lại nữa, "chuyến ngược Lường" nghĩa là sao? Họ là vợ chồng hay anh em ruột? (vì có chung người mẹ) v.v...
Xin thưa rằng, lời bài hát trên chỉ là trích đoạn trong vở kịch dân ca Nghệ Tĩnh "Khi ban đội đi vắng" của nhà viết kịch Nguyễn Trung Phong (1929-1990). Ông quê ở làng Trung Phường, xã Diễn Minh, huyện Diễn Châu, Nghệ An, nguyên Phó ty Văn hóa tỉnh Nghệ Tĩnh (gồm 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh hiện nay); là tác giả vở chèo "Cô gái sông Lam" nổi tiếng
"Khi ban đội đi vắng" là vở kịch ngắn, trong đó các nhân vật đối đáp với nhau, giải quyết xung đột bằng cách hát các làn điệu dân ca xứ Nghệ, giống như diễn chèo, cải lương vậy. Nhà viết kịch Nguyễn Trung Phong là một trong những người đầu tiên đưa dân ca Nghệ Tĩnh vào kịch.
Vào những năm đầu thập kỷ 70, một số vở ca kịch của ông, trong đó có "Khi ban đội đi vắng" đã được Đoàn chèo Nghệ Tĩnh và nhiều đội văn nghệ nghiệp dư của địa phương dàn dựng thành công. Năm 1973, Ty Văn hóa Nghệ Tĩnh cũng cho xuất bản tập kịch hát dân ca lấy tên là "Khi ban đội đi vắng", tập hợp một số vở kịch hát của các tác giả Nguyễn Trung Phong, Nguyễn Trung Giáp v.v...
Vở kịch ngắn "Khi ban đội đi vắng" kể về "anh cu Thành", lợi dụng lúc Ban đội đi vắng, định làm một việc phi pháp. "Ban đội" là gọi tắt của Ban quản lý đội sản xuất của Hợp tác xã nông nghiệp thời bao cấp. Nơi "anh cu Thành" nhắm tới là chợ Lường.
Chợ Lường ở mạn ngược, thuộc huyện Đô Lương, Nghệ An, nổi tiếng về buôn bán trâu bò và chè xanh. Dân ở mạn xuôi thuộc các huyện Diễn Châu, Yên Thành… lên mạn ngược mua trâu bò, khoai sắn, chè xanh về xuôi bán kiếm lời gọi là "đi ngược". "Anh cu Thành" tranh thủ "khi ban đội đi vắng", lên chợ Lường buôn lậu gọi là "đi ngược Lường". Trong vở ca kịch này, âm mưu của "anh cu Thành" là "ngược Lường" buôn lậu… chè xanh!
Đó là loại chè người ta chặt cả cành, bó lại thành mớ như mớ rau. Khi cần uống, cấu bớt cành, rửa sạch, cho vào ấm đun như… sắc thuốc bắc! Ngày ấy, đối với dân mạn xuôi, chè xanh là thứ... xa xỉ! Những ông cán bộ như Nguyễn Trung Phong, nhân tiện đi công tác mới dám mua mấy bó chè xanh về thết đãi hàng xóm.
Có lẽ thế hệ trẻ bây giờ, nhiều người không hiểu nổi vì sao thứ chè xanh ngày ấy lại khan hiếm và là hàng quốc cấm? Là bởi, thời bao cấp, hàng nông sản, thực phẩm như chè, lạc, trâu bò, lợn v.v. chỉ được phép bán cho Nhà nước; người nào mang chè xanh, chè búp, lạc v.v... đi bán kiếm lời được cho là buôn lậu.
Vì vậy, mới có chuyện "anh cu Thành" lợi dụng "Khi Ban đội đi vắng" để buôn lậu chè xanh! Bữa đó, Ban đội đi vắng, việc quản lý nhân sự trong đội sản xuất bị buông lỏng. Nhân cơ hội này, "anh cu Thành" quyết đi buôn chè xanh! Nhưng, âm mưu "đen tối" của anh ta nhanh chóng bị cô vợ vạch trần!
Khi biết được âm mưu của chồng, cô ta liền bàn với mẹ chồng, tìm cách chặn đứng hành vi sai trái của anh ta. Biết chuyện, mẹ của kẻ định buôn lậu này là bà Tâm, một đảng viên lâu năm, đã cùng con dâu lập phương án, chặn đứng hành vi "đi sai đường" của "anh cu Thành"!
Âm mưu bị phá, anh cu Thành trách vợ rằng không thương chồng. Cô vợ thanh minh rất quyết liệt rằng, dù anh có "giận thì giận mà thương thì thương", còn cô, trước âm mưu định đi buôn lậu chè xanh của chồng là "sai đường", cô không chịu nổi! Việc cô làm không phải là nông nổi, bồng bột mà đã "đo lường rất chi là cặn kẽ" và được mẹ chồng đồng tình ủng hộ. Anh không thể trách cô là không thương chồng được, mà hãy tự trách mình!
Đoạn thanh minh của người vợ với chồng trong vở ca kịch trên chính là nguyên văn của bài hát "Giận mà thương" mà lâu nay chúng ta được nghe. Và từ hoàn cảnh ra đời bài này có thể giúp thế hệ hôm nay và mai sau hiểu hoàn cảnh sống của một thời thiếu thốn!
(Sưu tầm)

Chủ Nhật, ngày 01 tháng 3 năm 2015

Giao lưu, tư vấn đầu năm

Sáng nay, Chủ nhật 1/3/2015, nhằm ngày mười một tháng giêng âm lịch, trong không khí đầu xuân ấm áp, bên cạnh những cành đào cành mai rực rỡ khoe sắc dưới những tia nắng đầu mùa, tại Nhà sách Bắc miền trung cạnh Ngã năm TP Vinh, CLB Kinh dịch Nghệ An đã có buổi giao lưu và tư vấn Kinh dịch, Phong thủy với hội Cổ vật NA và một số khách mời. Nội dung chủ yếu đề cập tới là Huyền không phi tinh, Bát trach minh cảnh, các Thần Sát cần lưu ý trong năm Ất Mùi, các phương vị có cát thần, hung thần bay đến và cách hóa giải. Diễn giả là thầy Đức Tâm, một trong những thầy có uy tín, kinh nghiệm của Câu lạc bộ Kinh dịch Nghệ An. Sau phần trình bày của thầy là phần trao đổi, hỏi đáp, tư vấn tại chỗ cho một số trường hợp cụ thể. Đây là hoạt động mở đầu của CLB cho năm Ất Mùi. Buổi giao lưu, tư vấn đã thành công tốt đẹp, để lại nhiều ấn tượng sâu sắc trong lòng khán thính giả. Hi vọng Năm con DÊ sẽ là năm mang đến nhiều thành công, may mắn, tài lộc cho CLB cũng như các hội viên của CLB Kinh dịch Nghệ An.
Quang Đạo: Chủ nhiệm Câu lạc bộ Kinh dịch - Phong thủy Nghệ An

Thứ Năm, ngày 19 tháng 2 năm 2015

Hiểu để yêu hơn câu dân ca ví, giặm quê nhà

Hiểu để yêu hơn câu dân ca ví, giặm quê nhà

(Congannghean.vn)-Là người Nghệ, ai cũng tự hào khi dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh được UNESCO vinh danh là Di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại. Tuy nhiên, những tác phẩm dân ca ví, giặm được sáng tác qua nhiều thời kỳ với ngôn ngữ đặc trưng xứ Nghệ, trong đó có nhiều từ cổ rất khó hiểu, thậm chí, cùng một từ nhưng lại có nhiều cách hiểu trái ngược nhau. Để yêu hơn câu ví, giặm quê nhà, cần phải hiểu được nội dung và ý nghĩa của lời ca mà các tác giả cũng như người dân xứ Nghệ bao đời gửi gắm vào trong đó.
Tôi còn nhớ, thời kháng chiến chống Mỹ, có nhiều tác phẩm kịch hát dân ca ví, giặm xuất sắc được nhiều người yêu thích như tác phẩm: “Ví giận thương”, “Không phải tôi”… Thực ra, nguyên tác của “Ví  giận thương” hay còn gọi là “Giận mà thương” là vở kịch hát dân ca “Khi ban đội đi vắng” của tác giả Nguyễn Trung Phong, quê ở huyện Diễn Châu. Hồi đó, các tác phẩm này thường được các đoàn văn công của tỉnh cũng như các đội văn nghệ các xã dàn dựng, biểu diễn. Lời ca tuy mộc mạc, khá dễ hiểu nhưng vẫn có nhiều người hiểu theo nhiều cách khác nhau.
Dân ca ví, giặm đã đi vào cuộc sống thường nhật của người dân xứ Nghệ
Dân ca ví, giặm đã đi vào cuộc sống thường nhật của người dân xứ Nghệ
Đơn cử, như trong bài “Giận mà thương” có câu: “Vì thương anh nên em bàn với mẹ, quyết ngăn anh không đi chuyến ngược lường”. Tôi nhớ, có lần đi công tác ở Hà Nội, một bác cao tuổi quê ở Nghệ An đang ở Đê La Thành, gần Trường Đại học Văn hoá, Trường Viết văn Nguyễn Du hiện nay hỏi chúng tôi rằng: “Các cậu có hiểu câu hát “Quyết ngăn anh không đi chuyến ngược lường” là sao không?”. Chúng tôi chưa kịp trả lời thì bác nói luôn: “Là vì ở lường tức là Đô Lương ngày xưa có nhiều gái “làm tiền”, ở đó có nhiều quán Cô Đầu, nên các bà vợ sợ chồng đi lên đó rồi dễ bị sa ngã”. Chúng tôi cố giải thích cho đúng với xuất xứ và tinh thần bài hát nhưng bác vẫn không nghe, còn bảo thế hệ các cậu là hậu sinh nên không hiểu.
Mới đây, sau khi dân ca ví, giặm xứ Nghệ được UNESCO vinh danh, tôi có thắc mắc nhỏ không biết hỏi ai bèn lên mạng hỏi nhà thơ Vương Trọng mấy câu trong bài “Phụ tử tình thâm” thuộc dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh. Mấy câu hát ấy như sau:
“Dừ phụ tại trắc mậu
Rồi trắc tại vô thân
Con ở cho có thuỷ có chung
Để phụ từ tử hiếu
Được phụ từ tử hiếu…”
Hai câu: “Dừ phụ tại trắc mậu
Và trắc tại vô thân”… 
là ý mần răng hả bác Vương Trọng?
Đợi qua nhiều ngày mà tôi vẫn không thấy nhà thơ Vương Trọng trả lời. Chắc bác ấy quá bận. May sao, NSND Hồng Lựu có ghé đọc và giải thích nguyên văn như sau:
"Dừ phụ tại trắc mậu
Rồi trắc tại vô thân
Con ở cho có thuỷ có chung
Được phụ từ, tử hiếu
Mà được phụ từ, tử hiếu"
Hồi nhỏ, bà nội hát ru em:
“Dừ phụ trại trắc mậu
Rồi trắc trại vô thân...”.
Em không hiểu, hỏi bà thì được bà giải thích: “Mẹ mất đi rồi còn cha, dù cha ốm đau già yếu không mần được chi nựa, nhưng còn cha ở nhà đó, con cụng có cảm giác vững vàng như ngọn núi”. Bà giải thích: “Trại” nghĩa là Rú. Trại là vườn thêm, là cái rú ngoài mảnh vườn ngôi nhà đang ở.
Ý nói đến sự dư thừa, chở che nữa. Em nghe rồi, nghĩ cách giải thích của nội em cũng chưa thoả đáng lắm. Mấy câu sau dễ hiểu rồi. Lớn lên, khi em chuẩn bị cho ra đĩa VCD, em đưa thắc mắc này hỏi ý kiến nhà thơ Thạch Quỳ và PGS.TS Ninh Viết Giao. Cả 2 người đều nói, chỉ có thể giải thích như sau: Mẹ mất thì còn cha ở với con, nếu lỡ có điều bất trắc xảy đến với cha thì con không còn ai trên đời nữa (vô thân) nên con phải sống với cha mẹ thật tốt để khi cha mẹ có chết đi cũng được tiếng cha hiền con hiếu. Cả 2 bác nói đại khái là vậy, anh Quang ạ”.
Qua trả lời của NSND Hồng Lựu, có sự tham vấn của nhà thơ Thạch Quỳ và PGS.TS Ninh Viết Giao, chúng ta càng hiểu và yêu hơn câu dân ca, yêu hơn đời sống văn hoá tinh thần của cha ông, bởi dân ca cũng là biểu hiện tâm hồn cốt cách người Nghệ. Dù đói, dù nghèo, trước khi qua đời, người cha không dặn con điều gì, kể cả việc làm ăn mà chỉ dặn con là ăn ở làm sao có thủy có chung, để được tiếng là “Phụ từ tử hiếu”. Thật đáng trân trọng. Người Nghệ quả là trọng nghĩa khinh tài, trọng cái “tiếng” hơn cái “miếng”. Để được “phụ từ tử hiếu”, thì phải “ăn ở cho có thuỷ có chung”, có trước có sau, vả lại có phụ từ thì có tử hiếu. Câu này được giặm lại 2 lần, ý muốn cho người con khắc cốt ghi tâm lời dạy của cha già.
Không biết, sự giải thích của NSND Hồng Lựu đã làm hài lòng các bạn chưa? Bởi mấy câu này cứ mỗi người hiểu mỗi nghĩa.
Một điều cần quan tâm nữa là, nói về loại hình dân ca ví, giặm, cũng cần hiểu được đặc trưng của nó là gì. Một lần nói chuyện với một nghệ nhân làng quan họ, tôi có hỏi đặc trưng của dân ca quan họ Bắc Ninh là gì và được nghệ nhân trả lời ngắn gọn trong 4 chữ: “Vang - Rền - Nền - Nẩy”.
Vâng! Đặc trưng của dân ca quan họ Bắc Ninh là “Vang - Rền - Nền - Nẩy”. Vậy, đặc trưng của dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh là gì? Thiết nghĩ, các nhà nghiên cứu văn hoá xứ Nghệ cũng cần có câu trả lời thoả đáng để công chúng người Nghệ đã yêu, tự hào thì càng yêu và tự hào hơn dân ca ví, giặm quê mình.
.
Quang Đạo